THỨ 3 – TUẦN III – MÙA VỌNG

THỨ 3 - TUẦN III- MÙA VỌNG

THÁI ĐỘ ĐÓN NHẬN ƠN CỨU ĐỘ

Người thu thuế và nhng cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”

Xp 3,1-2.9-13; Mt 21,28-32

Tác giả: Lm.Gioan Trần

Cũng như một số tiên tri khác, sứ điệp của Xôphônia được tóm lại trong việc loan báo về“ngày của Thiên Chúa”, nhưng ngày đó là để trừng phạt Giuđa. Giuđa bị kết án vì những tội lỗi của họ xuất phát từ lòng kiêu căng và sự phản loạn: “Khốn cho thành phản loạn và ô uế, khốn cho thành tàn bạo không nghe tiếng kêu mời, chẳng tiếp thu lời sửa dạy, không cậy trông vào Đức Chúa, chẳng đến gần Thiên Chúa của mình”.

Đồng thời Thiên Chúa hướng ơn cứu độ của mình đến với những dân tộc khác: “Bấy giờ Ta sẽ làm cho môi miệng chư dân nên tinh sạch để tất cả đều kêu cầu danh Đức Chúa”.

“Ngày của Thiên Chúa” mà Xôphônia loan báo chính là sự xuất hiện của Đấng Messia. Khi Đấng Messia xuất hiện, dân của Ngài đã không đón nhận vì sự kiêu căng và phản loạn. Vì vậy mà ơn cứu độ đã dành cho một dân tộc khác, “một dân nghèo hèn và bé nhỏ”; dân này không có biên giới, không có lãnh thổ, kể cả những người ngoại cũng được kể vào dân này, nhưng với điều kiện là họ “sẽ không làm chuyện tàn ác bất công, cũng không ăn gian nói dối và miệng lưỡi chúng sẽ không còn phỉnh gạt”.

Đến thời Tân ước, sự xuất hiện của Gioan Tẩy Giả là để dọn đường cho Đấng Cứu Thế, nhưng họ đã không tin ông. Thế nhưng “những người thu thuế và cô gái điếm lại tin”. Họ được mệnh danh là những kẻ tội lỗi công khai, nhưng lại được cứu độ nhờ đón nhận sứ điệp Gioan loan báo.

Thái độ kiêu căng, tự mãn sẽ làm cho chúng ta không thể đón nhận ơn cứu độ. Ngược lại lòng khiêm nhường, sám hối sẽ giúp chúng ta mở lòng ra để đón nhận ơn Chúa.

Lạy Chúa, trong khi mong chờ Chúa đến, xin cho chúng con luôn ý thức thân phận khốn cùng của mình để càng tha thiết chờ mong ơn Chúa hơn. Xin giúp con tránh xa thái độ tự mãn, bất cần đời, bất cần Chúa; nếu có thì xin cho con biết đón nhận lời kêu của Gioan để “dọn đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”.

THỨ 2 – TUẦN III – MÙA VỌNG

THỨ 2 - TUẦN III MÙA VỌNG

CỐ CHẤP VÌ GHEN TỴ

Ds 24,2-7.15-17a; Mt 21,23-27

Tác giả: Lm. Gioan Trần

Sách Lã Thị Xuân Thu có kể truyện về Án Tử như sau:

 Nghe tin Án Tử sắp sang nước Sở, Vua Sở bảo quân thần rằng: “Án Tử là người có tài ăn nói của nước Tề sắp sang đây. Ta muốn làm cho hắn bị nhục, các ngươi có kế gì không?“. Cận thần thưa:”Để bao giờ Án Tử sang, chúng tôi sẽ trói một người nước Tề và cho là phạm tôi ăn trộm“.

 Khi Án Tử đến nơi, vua Sở cho thiết tiệc khoản đãi. Đang giữa bữa tiệc, bỗng có hai tên lính điệu một người bị trói vào, vua Sở hỏi: “Tên này tội gì mà bị trói thế?” Họ đáp: ” Đó là một người nước Tề, phạm tội ăn trộm” Vua đưa mắt nhìn Án Tử và nói: “Người nước Tề hay trộm cắp lắm nhỉ?” Án Tử đứng dậy thưa: “Chúng tôi có nghe cây quất mọc ở đất Hoài Nam thì là thành quất chua. Cành là giống nhau, mà quả lại chua, ngọt khác nhau là tại sao?” – “Thưa là tại thuỷ thổ khác nhau“. “Nay người dân ở bên Tề thì lương thiện, mà sang nước Sở lại sinh ra trộm đạo, có lẽ cũng bởi thuỷ thổ nên sinh ra đổi khác chăng.

Sở Vương muốn làm nhục An Tử nhưng rồi trước bằng chứng về sự thật mà Án Tử  đưa ra để biện mình, Sở Vương lại đành nuốt nhục. Chính bằng  chứng về sự thật mà Án Tử nêu ra, đã đột ngột làm xoay chuyển được mưu của những kẻ muốn bày trò làm nhục người khác.

Hoàn cảnh Sở Vương phần nào giống như tâm trạng của giới Thượng tế, Biệt phái vào thời Chúa Giêsu, khi họ lên tiếng  bắt bẻ Chúa Giêsu trong bài tin mừng hôm nay.

Một cách nào đó, câu hỏi của nhóm Thượng tế và kỳ lão đặt ra cũng mang hình thức tìm kiếm sự thật, nhưng mục đích của họ là bắt bẻ và tìm cớ hại Ngài, Chúa Giêsu vẫn tỏ ra khoan dung trước thái độ cố chấp đó của họ. Ngài đặt ra cho họ một câu hỏi, không phải để bắt bẻ hay gài bẫy họ, mà là để mời gọi họ nhận chân sự thật.

Tuy nhiên, câu hỏi đó của Chúa Giêsu khiến các thượng tế và kỳ mục phải bối rối. Sự bối rối đó vạch trần lòng dạ cố chấp của họ không muốn tìm hiểu sự thật. Sự thật về phép rửa của Gioan chỉ thuộc một trong hai trường hợp : hoặc do Thiên Chúa hoặc do loài người. trong khi Toàn dân đều nhìn nhận Gioan là một ngôn sứ của Thiên Chúa sai đến; sứ vụ của ông là làm chứng cho Đấng Cứu Thế. Nên các ông thầy của dân mà không biết thì quả thực là thiếu thiện chí và cố chấp. do thế, Chúa đã nói nhiều bằng lời, bằng việc làm để chứng minh Người là Đấng Cứu Thế, nhưng họ không hiểu hay không muốn hiểu

Cũng thế, nhiều khi vì không muốn bỏ đi một thành kiến, chúng ta cũng không chịu khó tìm hiểu nên cũng rơi vào thái độ cố chấp tới nỗi mù quáng như vậy.

Ước gì, chúng ta đừng để lòng mình đầy ắp những sự kiêu căng, đừng đánh mất sự bén nhạy trước những giáo huấn của Chúa Giêsu, đừng chỉ lo bảo vệ quyền lợi của mình mà quên việc tìm kiếm Thiên Chúa.

Nguyện xin Chúa cho chúng ta nhận ra uy quyền của Ngài trên cuộc đời chúng ta.

Chúa Nhật – Tuần 3 – Mùa Vọng

TÁI THIẾT NIỀM HY VỌNG SAU CƠN LŨ

TÁI THIẾT NIỀM VUI & HY VỌNG SAU CƠN LŨ

Is 35, 1-6a. 10; Mt 11, 2-11

Tác giả: Lm. Gioan Trần

Hôm nay, Chúa Nhật thứ Ba Mùa Vọng, khắp nơi trên thế giới tiếng reo vui vang vọng: Gaudete in Domino semper – hãy vui mừng trong Chúa luôn mãi! Giữa bóng tối chờ đợi Đấng Cứu Thế, phụng vụ mời gọi chúng ta hân hoan, vì hy vọng đang ló dạng như bình minh.

Tiên tri Isaia vẽ nên bức tranh sống động: “Sa mạc và đất khô cằn sẽ hoan hỉ, hoang địa sẽ reo mừng và nở hoa. Như hoa huệ, nó sẽ nở rộ và hân hoan reo mừng… Mắt người mù sẽ được mở ra, tai người điếc sẽ được thông, kẻ què sẽ nhảy múa như nai, và lưỡi người câm sẽ reo hò… Những kẻ được Chúa chuộc sẽ trở về Si-on với tiếng hát, vui mừng và hoan hỉ sẽ ngự trị trên đầu họ, và họ sẽ nhận được niềm vui và hạnh phúc, còn nỗi sầu muộn và than van sẽ biến mất” (Is 35:1-2,5-6a,101). Đây không phải giấc mơ xa xôi, mà là lời hứa Chúa biến đổi mọi sa mạc thành vườn hoa hy vọng.

Còn Thánh Vịnh thì ca lên: Chúng ta ca tụng Chúa là Đấng “làm trời đất, biển cả và muôn vật trong đó; Đấng giữ lời minh tín muôn đời, Đấng thi hành công bình cho kẻ bị ức, ban của ăn cho kẻ đói khát. Chúa giải thoát những người tù tội… Mở mắt người mù, nâng đỡ kẻ bị quật ngã, yêu thương người công chính, che chở kẻ xa lạ, nâng đỡ trẻ mồ côi và góa phụ” (Tv 146:6c-7,8-92).

Nơi bài đọc 2, Thánh Giacôbê khuyên nhủ: “Anh em hãy kiên nhẫn cho tới ngày Chúa đến. Xem nông dân chờ đợi quý mùa của đất đai, kiên nhẫn chờ những cơn mưa đầu mùa và mưa cuối mùa. Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và củng cố tâm hồn anh em, vì ngày Chúa đến đã gần kề” (Gc 5:7-83).

Và trong Tin Mừng, trả lời cho ông Gioan Tẩy Giả hỏi từ tù ngục: “Ngài có phải là Đấng phải đến không?” Chúa đáp: “Hãy đi và loan báo cho ông Gioan nghe những gì anh em thấy và nghe: người mù được thấy, người què được đi, người phong hủi được sạch, người điếc được nghe, người chết được sống lại, và người nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11:4-54). Những dấu chỉ ấy chính là Nước Trời đang đến, mang niềm vui giữa gian nan.

Như thế đó, Lời Chúa hôm nay như dòng suối mát giữa sa mạc thực tại. Đặc biệt, ở miền Nam trung bộ Việt Nam – vùng đất vừa chịu cơn lũ lụt kinh hoàng – chúng ta thấy sa mạc ấy: nhà cửa ngập sâu, cánh đồng tan hoang, gia đình mất mát, các Nhà Thờ hư hỏng… công việc tái thiết đang diễn ra, nhưng việc đó sẽ kéo dài và đầy khó khăn, đòi hỏi không chỉ vật chất mà còn tinh thần vững mạnh.

Vậy giữa bóng đêm thất vọng từ đam mê, tội lỗi, và nỗi đau hậu lũ, làm sao để hy vọng bừng sáng?

Chính vì thế, Mùa Vọng mời gọi chúng ta chuẩn bị Giáng Sinh không chỉ bằng cứu trợ, mà bằng những biểu tượng sống động: trang trí và thắp sáng nhà thờ. Không phải xa xỉ, mà là cần thiết, như ngọn nến Chúa Giêsu – soi chiếu tâm hồn, xua tan bóng tối, khơi dậy niềm vui giữa cuộc tái thiết dài hơi, đem hy vọng vào chốn thất vọng.

Quả thực, ta hãy nghĩ về ngọn nến: nó cháy để chiếu sáng, không phải để giữ cho riêng mình. Trang trí nhà thờ đón Noel – những ánh đèn lung linh, cây thông xanh tươi, hang đá ấm áp – chính là những NGỌN NẾN ấy, thắp lên giữa đêm đông. Chúng nhắc nhở rằng Chúa đang đến, biến lũ lụt thành bình an, tội lỗi thành ơn cứu độ.

Đức cố Giáo Hoàng Phanxicô đã dạy trong Bài Giảng Lễ Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Vọng năm 2015, tại Vương Quốc Trung Phi, giữa những đau khổ tương tự: “Giữa những người đau khổ, những người già yếu, những người tuyệt vọng chỉ xin một miếng bánh công bình, một chút chú ý và lòng tốt – tất cả chúng ta đang tìm kiếm ân sủng của Thiên Chúa, ân sủng của bình an. Chúa Giêsu không để chúng ta vượt qua một mình; Ngài mời gọi chúng ta vượt qua cùng Ngài, bằng cách giải phóng mình khỏi những khái niệm chia rẽ về gia đình và huyết thống, để xây dựng một Giáo Hội là gia đình của Thiên Chúa, mở rộng cho mọi người, quan tâm đến những người cần nhất[i] Trang trí không tách rời cứu trợ; nó bổ sung, mang ánh sáng tinh thần để nuôi dưỡng sức mạnh tái thiết vật chất.

Đức cố Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, trong Bài Giảng Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng ngày 28 tháng 11 năm 2009, nhấn mạnh: “Mùa Vọng thúc đẩy chúng ta hiểu ý nghĩa của thời gian và lịch sử như một kairos, một cơ hội thuận lợi cho ơn cứu độ. Chúa Giêsu minh họa điều này qua các dụ ngôn: người đầy tớ chờ chủ trở về, các trinh nữ chờ chàng rể… Hy vọng đánh dấu hành trình nhân loại, nhưng đối với Kitô hữu, nó được sống động bởi một sự chắc chắn: Chúa hiện diện trong dòng chảy cuộc đời chúng ta, đồng hành và một ngày kia sẽ lau khô nước mắt chúng ta. Một ngày không xa, mọi sự sẽ hoàn tất trong Nước Thiên Chúa, Nước của công bình và bình an[ii]. Những ánh sáng Noel chính là biểu tượng kairos ấy: giữa tái thiết kéo dài ở Vùng lũ – cần gạo, nhà cửa, trường học, cở sở vật chất.. – chúng soi đường cho tâm hồn, chống lại thất vọng từ đam mê trần thế và bóng tối tội lỗi. Không phải lãng phí, mà là đầu tư hy vọng: một nhà thờ lung linh mời gọi mọi người đến cầu nguyện, chia sẻ, và cùng nhau xây dựng lại.

Hơn nữa, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, trong Thông Điệp Ngày Thế Giới Ông Bà Và Người Cao Tuổi lần thứ 5 năm 2025, khích lệ: “dù thân xác bên ngoài chúng ta đang hao mòn, nhưng nội tâm chúng ta được đổi mới mỗi ngày’ (2 Cr 4:16). Hãy luôn ngợi khen Thiên Chúa vì lòng nhân lành, nuôi dưỡng sự hiệp nhất với người thân, mở lòng với những người xa cách, và đặc biệt với những người cần giúp đỡ. Bằng cách này, chúng ta sẽ là dấu chỉ hy vọng, bất kể tuổi tác”[iii].

Ở những vùng lũ đã qua, những người dân giữa lũ lụt cần không chỉ cơm ăn, mà ánh sáng đức tin – và trang trí nhà thờ chính là ngọn đuốc ấy, thắp lên niềm vui Mùa Vọng, giúp họ kiên nhẫn như nông dân chờ mùa gặt.

Anh chị em thân mến, hãy để niềm vui hôm nay trở thành hành động: tiếp tục cứu trợ những vùng lũ đã qua bằng vật chất – gạo, quần áo, tiền bạc – nhưng cũng tham gia trang trí nhà thờ với tất cả tấm lòng. Mỗi ngọn đèn là lời cầu nguyện cho anh chị em nơi đang tái thiết; mỗi bông hoa là hy vọng chống lại bóng tối tội lỗi và đam mê. Hãy tiếp tục tìm cách giúp cho quỹ lũ lụt, và cùng nhau thắp sáng giáo xứ – biến sa mạc hậu lũ thành vườn hoa Isaia. Hãy chia sẻ câu chuyện hy vọng từ ông Gioan Tẩy Giả: Chúa đang đến, mang Tin Mừng cho người nghèo.

Chúng ta tin tưởng vào lời Thánh Vịnh: “Chúa sẽ ngự trị đời đời, Thiên Chúa của Si-on, qua muôn thế hệ” (Tv 146:102).

Xin Chúa Giêsu, Ánh Sáng Thế Gian, ban cho chúng ta sức mạnh sống niềm vui ấy, đặc biệt cho vùng thiên tai vừa qua. Amen.


[i] Homily of the Holy Father, Apostolic Journey – Central African Republic, 29 November 20155,https://www.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2015/documents/papa-francesco_20151129_repcentrafricana-omelia-cattedrale-bangui.html

[ii] Celebration of First Vespers of the First Sunday of Advent, 28 November 2009

[iii] Message of the Holy Father for the 5th World Day for Grandparents and the Elderly, 27 July 20257

Chia sẻ Lời Chúa Lễ An Táng – Mùa Vọng

Chia sẻ Lời Chúa Lễ An Táng - Mùa Vọng

Niềm hy vọng và sự sống lại

Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, dù có chết cũng sẽ sống” (Ga 11,25).

Tác giả : Lm. Gioan Trần

Trong sắc tím của mùa Vọng, khi Giáo Hội mời gọi chúng ta tỉnh thức chờ Đấng Cứu Độ, hôm nay chúng ta tụ họp bên bà Maria – người phụ nữ sinh năm 1962, đã sống cuộc đời độc thân giản dị bên anh chị em ruột thịt, không chồng con, nhưng đầy ắp tình yêu thương thầm lặng.

Bà ra đi giữa mùa chờ mong, để lại nỗi đau cho những những người thân thuộc, nhưng cũng khơi dậy niềm hy vọng sâu xa: cái chết không phải là kết thúc, mà là lời mời gọi bước vào ánh sáng Phục Sinh. Như lời Thánh Phaolô nhắc nhở, “Chúng ta không muốn anh em chẳng hay biết gì về những người ngủ trong Chúa, để anh em khỏi buồn sầu như những người không có niềm hy vọng” (1Tx 4,13).

 Hôm nay, hãy cùng suy ngẫm về niềm hy vọng và sự sống lại, để tìm an ủi trong đức tin Công giáo.

Mùa Vọng là thời gian của sự chuẩn bị, nơi Giáo Hội khơi dậy ý thức về tội lỗi và khao khát trở về với Chúa, qua việc kiềm chế dục vọng và thực hành sám hối tự nguyện. 

Bà Maria đã sống như vậy suốt 63 năm đời mình: một cuộc đời bình thường, không ồn ào, nhưng kiên trung trong đức tin. Sinh ra giữa những biến động của thế kỷ XX, bà chọn con đường độc thân, dành trọn tình yêu cho anh chị em và cộng đoàn giáo xứ. Không có gia đình riêng, bà trở thành trụ cột thầm lặng – chăm sóc người thân, tham dự Thánh Lễ, lần chuỗi Mân Côi trong âm thầm… Cuộc đời bà gợi nhớ lời Chúa Giêsu: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, dù có chết cũng sẽ sống” (Ga 11,25). Bà không tìm kiếm vinh quang trần thế, nhưng đã “xây dựng Nước Trời” qua những hy sinh nhỏ bé, như hy vọng Kitô giáo được nuôi dưỡng bởi tình yêu Chúa – nền tảng của mọi hy vọng lớn lao.

Hãy hình dung bà Maria như một ngọn nến le lói trong đêm Vọng: không rực rỡ, nhưng ấm áp và bền vững. Giống như Thánh Phanxicô Assisi tìm thấy ánh sáng qua những người đau khổ, bà đã là người mang hy vọng cho anh chị em mình – qua những bữa cơm gia đình, những lời khuyên nhủ, hay sự hiện diện lặng lẽ trong giờ cầu nguyện…

Trong thế giới hối hả ngày nay, nơi độc thân đôi khi bị coi là cô đơn, bà chứng tỏ rằng đời sống ấy có thể là lời dâng hiến đẹp đẽ, mở rộng trái tim cho Chúa và tha nhân. Bà không có con cái theo nghĩa huyết nhục, nhưng qua đức ái, bà đã “sinh hoa trái thiêng liêng” – nuôi dưỡng đức tin cho bao người xung quanh.

Như Đức Bênêđictô XVI dạy, hy vọng Kitô giáo không chỉ nhìn về quá khứ hay hiện tại, mà hướng tới giờ phán xét, nơi Chúa sẽ trở lại trong vinh quang để ban công bình và sự sống vĩnh cửu. Bà Maria nay đang ở nơi ấy, được ôm ấp bởi tình yêu Chúa, Đấng biến mọi đau khổ thành nguồn hy vọng bất diệt.

Anh chị em thân mến,

Cái chết của bà mời gọi chúng ta sống mùa Vọng với tình mến sâu sắc hơn. Trong những ngày này, hãy dành thời gian xét mình, tha thứ cho nhau, và thực hành bác ái – thăm viếng người cô đơn, cầu nguyện cho linh hồn các tín hữu đã khuất.

Với tang quyến của bà, chúng ta hãy tiếp tục di sản của bà bằng cách giữ gìn đức tin gia đình, biến ngôi nhà thành nơi chờ mong Chúa đến. Hy vọng không làm chúng ta thất vọng, vì nó được neo vào Chúa Kitô, Đấng đã sống lại và hứa ban sự sống đời đời. Đừng để nỗi buồn che lấp ánh sáng; hãy để nó thúc đẩy chúng ta hướng về tương lai, nơi “hy vọng nói với chúng ta về một khát khao sâu thẳm trong lòng người, hướng tới sự viên mãn và những lý tưởng cao đẹp như chân lý, thiện hảo và tình yêu“.

Vậy nên, hôm nay chúng ta không chỉ tiễn biệt bà Maria, mà còn cam kết sống tỉnh thức trong hy vọng, yêu mến trong đau khổ.

Lạy Chúa, xin đón nhận bà vào Nước Trời, ban bình an cho Tang quyến, và khơi dậy trong chúng con ngọn lửa hy vọng Phục Sinh.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Amen.

THỨ 7 – TUẦN II – MÙA VỌNG

THỨ 7 - TUẦN II - MÙA VỌNG

ÊLIA- GIOAN B. – CHÚA GIÊSU

Hc 48, 1-4.9-11; Mt 17,10-13

Qua sứ điệp Lời Chúa hôm nay, chúng ta đã được nghe nhắc đến Elia, Gioan Tẩy giả và chính thân phận của Chúa Giêsu.

Elia là tiên tri luôn lên tiếng tố cáo những bất công và kêu gọi tôn trọng phẩm giá con người, nhất là những người cùng khổ, bị áp bức. Cũng vậy, lời kêu gọi sám hối của Gioan cũng cảnh cáo trước những bất công xã hội và bênh vực những người thấp cổ bé miệng trong xã hội.

Nếu đoạn sách Huấn Ca được trích đọc hôm nay, đã cho biết Elia là người đến để làm nguôi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, để giao hoà cha với con, và chấn hưng lại chi họ Giacop, thì Gioan Tiền Hô, Elia của thời Tân Ước, cũng đã xuất hiện để rao giảng về sự sám hối, một việc làm để chấn hưng tâm hồn, hầu làm nguôi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Chúng ta hãy cùng lược sơ vài nét giống nhau của hai ngài như sau:

Cũng như Êlia xưa kia, Gioan mặc áo da thú thắt dây da (Mt 3,4), sống đời cơ cực để kêu gọi thống hối ăn năn (Mt 3,10). Elia tranh đấu để cho dân ông bỏ thần ngoại (1V 18). Mỗi khi lời của Chúa Giavê bị chống đối thì Elia lại nhảy ra tranh đấu bằng những lời nảy lửa (2V 1) khiến vua Akhab sợ hãi mà ăn năn (1V 21). Và Xưa kia Elia phải chạm trán với Vua Akhab và hoàng hậu Giêzabel như thế, thì Gioan phải đương đầu với Hêrođe và Hêrôđiađê.

Một đời Elia nhiệt tình lo cho Giavê và một đời Gioan cũng thế, cuối cùng đầu rơi trên đĩa bạc (Mt 14,11). Tất cả cho chúng ta thấy Gioan không là Êlia (Ga 1,21.25). Nhưng nhiệm vụ và ơn kêu gọi họ có phần giống nhau. Tinh thần họ gần như nhau. Cho nên câu nói “Elia phải đến trước là hiểu về Gioan tiền hô”.

Thật ra Chúa Giêsu muốn dùng hình ảnh của hai vị tiên tri này để ám chỉ chính Ngài, và số phận của Ngài. Ngài là Đấng các tiên tri loan báo, Ngài không những lên tiếng tố cáo bất công, mà còn đề cao quyền và phẩm giá cao trọng của con người nơi người bé mọn, bị đẩy ra bên lề xã hội.

Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá là một lời ngỏ của Thiên Chúa với con người rằng: Con người cao cả đến độ Thiên Chúa đã thí ban Con Một của Ngài. Tuy nhiên loaì người đã không công nhận và đã ngược đãi ngài như đã sử với các tiên tri.

………..

Êlia, Gioan tiền hô và Chúa Giêsu đều đã đi chung một con đường đau khổ để tới vinh quang; và đó cũng là con đường tốt nhất mà bất cứ ai theo Chúa  cũng phải đi qua để nên thánh.

Nhận ra như thế, chúng ta sẽ không thất vọng ngã lòng mỗi khi gặp gian truân thử thách, nhưng biết cám ơn Chúa và sẵn sàng lập công qua những thử thách đó.

Lạy Chúa, xin mau đến và cứu độ chúng con. Amen