Chúa Nhật VI – Mùa Phục Sinh – Năm A

Chúa Nhật VI - Mùa Phục Sinh – Năm A

“YÊU CHÚA – LÀ GIỮ LỜI NGÀI”

Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).

Cv 8, 5-8. 14-17; 1 Pr 3, 15-18; Ga 14, 15-21

Lm. John Trần

Có một nhà văn từng nói rằng: “Yêu không phải là nhìn nhau, nhưng là cùng nhìn về một hướng.” Trong đời sống nhân bản, tình yêu thực thụ bao giờ cũng đòi hỏi một sự chuyển động, một hành động cụ thể. Người ta không thể nói yêu nhau mà lại luôn làm những điều khiến đối phương đau lòng, cũng không thể nói yêu nhau mà lời nói của người này lại bị người kia gạt đi ngoài tai. Nếu tình yêu giữa người với người cần hành động để chứng minh, thì tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa lại càng cần một sự bảo chứng sống động hơn thế nữa.

Hôm nay, trong bầu khí linh thiêng của Chúa Nhật VI Phục Sinh, Chúa Giêsu đưa ra một định nghĩa rất rõ ràng, rất thực tế về tình yêu: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).

1. Tình yêu không dừng lại ở cảm xúc

Chúng ta thường dễ xúc động trước một bài thánh ca hay, một khung cảnh nhà thờ tĩnh lặng, và đôi khi chúng ta lầm tưởng cảm xúc đó là tất cả tình yêu dành cho Chúa. Nhưng Chúa Giêsu không dừng lại ở đó. Ngài muốn một tình yêu “có gốc có rễ,” một tình yêu bén rễ từ trong ý chí và trổ hoa qua việc tuân giữ Lời Ngài.

Thánh Gioan đã khẳng định: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8). Tình yêu ấy không phải là một lý thuyết suông, mà đã được cụ thể hóa bằng biến cố Nhập Thể và hy tế trên Thập giá. Như bài đọc II hôm nay, Thánh Phêrô đã nhắc nhở chúng ta: “Chính Đức Kitô đã chết một lần vì tội lỗi – Đấng Công Chính chết cho kẻ bất lương – để dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa” (1 Pr 3,18). Khi nhìn lên Thập Giá, ta thấy Chúa đã yêu ta bằng một tình yêu “không giữ lại gì cho mình.” Vì thế, để đáp lại một tình yêu cao cả như vậy, không có cách nào khác ngoài việc dùng chính tình yêu để đáp đền tình yêu. Và yêu Chúa, chính là đón nhận Lời Ngài làm kim chỉ nam cho đời sống.

2. Giữ Lời Chúa là gì?

Chúa Giêsu nói: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (Ga 14,21). “Giữ” ở đây không phải là cất kỹ trong tủ kính, cũng không phải là học thuộc lòng như một công thức toán học. “Giữ” trong ngôn ngữ Kinh Thánh mang nghĩa là ấp ủ, bảo vệ và để cho Lời đó uốn nắn hành vi của mình.

Như thế, Yêu mến Chúa Kitô có nghĩa là thực hiện các điều răn của Ngài. Tình yêu không được tóm gọn trong những tình cảm mơ hồ, hay trong những ước muốn tốt lành, nhưng đòi hỏi sự dấn thân sống Lời Chúa hằng ngày.

Và giữ Lời Chúa chính là giữ mười điều răn, mà cốt lõi là mến Chúa và yêu người. Yêu Chúa là tôn thờ Ngài trên hết mọi sự, không để cho tiền bạc, danh vọng hay những thú vui mau qua chiếm mất vị trí ưu tiên trong tâm hồn. Yêu người là nhìn thấy gương mặt của Chúa nơi anh chị em xung quanh, đặc biệt là những người nghèo khổ, những người khó tính hay những người đã từng làm tổn thương chúng ta.

Anh chị em nghĩ sao, nếu chúng ta đi lễ mỗi ngày, đọc kinh rất sốt sắng, nhưng khi ra khỏi cửa nhà thờ, chúng ta lại đối xử bất công với nhân viên, gian dối trong kinh doanh, hay cay nghiệt với người thân? Nếu như vậy, Lời Chúa vẫn chưa thực sự được “giữ” trong trái tim chúng ta. Chúa Giêsu nói: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Thật là một lời hứa tuyệt vời! Khi ta giữ Lời Chúa, tâm hồn ta trở thành đền thờ của Thiên Chúa Ba Ngôi.

3. Sự trợ giúp của Đấng Phù Trợ

Có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ cảm thấy lo lắng: “Thưa cha, giữ Lời Chúa khó quá, con là người yếu đuối, con thường xuyên sa ngã.” Chúa Giêsu thấu hiểu sự yếu đuối đó, nên Ngài đã hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Phù Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi, đó là Thần Khí sự thật” (Ga 14,16-17).

Trong Bài đọc I, chúng ta thấy Thánh Thần đã tác động mạnh mẽ tại Samari qua việc đặt tay của các Tông đồ (Cv 8,14-17). Chính Thánh Thần là Đấng tiếp sức cho chúng ta. Không có ơn Chúa, chúng ta không thể yêu Chúa cách trọn vẹn. Thánh Thần giúp chúng ta hiểu Lời Chúa và ban sức mạnh để ta thực hành Lời đó giữa một thế gian đầy rẫy những cám dỗ ngược dòng với Tin Mừng.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Thông điệp Veritatis Splendor (Ánh rạng ngời Chân lý), đã dạy rằngViệc tuân giữ các điều răn là con đường đầu tiên và cần thiết để đạt tới tự do: “Các điều răn đại diện cho điều kiện cơ bản để yêu thương tha nhân; đồng thời, chúng là bằng chứng của tình yêu thương đó. Chúng là bước đầu tiên cần thiết trên hành trình hướng tới tự do, là điểm khởi đầu của nó. Thánh Augustinô viết: “Khởi đầu của tự do là được giải thoát khỏi tội lỗi… như giết người, ngoại tình, dâm dục, trộm cắp, lừa đảo, phạm thánh và vân vân. Khi một người không còn phạm những tội lỗi này (và mỗi Kitô hữu nên không phạm những tội lỗi này), người đó bắt đầu ngẩng cao đầu hướng tới tự do. Nhưng đây chỉ là khởi đầu của tự do, chứ không phải là tự do hoàn hảo..” [*]. Đúng vậy, giữ luật Chúa không phải là một gánh nặng, nhưng là một sự giải thoát khỏi nô lệ của tội lỗi và cái tôi ích kỷ, để chúng ta được tự do yêu thương.

Anh chị em thân mến,

Đừng để niềm vui Phục Sinh chỉ là những lời chúc tụng bên ngoài. Hãy để nó thấm sâu vào nếp sống hằng ngày. Yêu Chúa là siêng năng gặp gỡ Ngài qua Thánh Thể; yêu Chúa là sống công bằng và chính trực; yêu Chúa là biết tha thứ thay vì oán hận.

Như Thánh Phêrô đã nhắn nhủ: “Thà làm việc thiện mà phải đau khổ, nếu đó là ý muốn của Thiên Chúa, còn hơn là làm điều ác mà được sung sướng” (1 Pr 3,17). Ước gì mỗi khi đứng trước một quyết định quan trọng hay một cám dỗ tội lỗi, chúng ta biết tự hỏi: “Làm điều này, tôi có đang thực sự yêu Chúa không?”

Lạy Chúa, Chúa biết chúng con yêu mến Chúa, nhưng xin hãy tăng thêm sức mạnh của Chúa Thánh Thần trong chúng con, để chúng con không chỉ yêu Chúa bằng lời nói, nhưng bằng một đời sống vâng phục và thực thi Lời Chúa mỗi ngày. Amen.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[*]. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II. (1993, 6 tháng 8). Thông điệp Veritatis Splendor (Ánh rạng ngời Chân lý), số 13. Vatican. Truy cập từ https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/en/encyclicals/documents/hf_jp-ii_enc_06081993_veritatis-splendor.html

Chúa nhật Thứ V, Mùa Phục Sinh – Năm A

Chúa nhật Thứ V, Mùa Phục Sinh - Năm A

CHÚA GIÊSU – ĐIỂM TỰA BÌNH AN

Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” (Ga 14,1).

Cv 6,1-7 ; 1Pr 2,4-9 ; Ga 14,1-12

Lm. John Trần

Có một thực tế mà chẳng ai trong chúng ta có thể chối cãi: Cuộc đời này chưa bao giờ là một mặt hồ yên ả. Đôi khi, chúng ta vừa mới thở phào vì vượt qua được một khó khăn này, thì nỗi lo khác đã vội vàng ập đến. Có người đang xao xuyến vì hóa đơn tiền điện, tiền học của con cái; có người lại đang thao thức vì một căn bệnh hiểm nghèo vừa được chẩn đoán; hay đơn giản là nỗi bất an về một tương lai mờ mịt.

Trong bầu khí của bữa Tiệc Ly, các tông đồ cũng đang rơi vào một trạng thái khủng hoảng. Thầy mình sắp ra đi, kẻ phản bội đang rình rập, và bầu trời Giê-ru-sa-lem bỗng trở nên nặng nề hơn bao giờ hết. Chính trong giây phút tâm hồn họ rệu rã nhất, Chúa Giêsu đã thốt lên lời an ủi trìu mến: “Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” (Ga 14,1).

“Xao xuyến” không chỉ là một cảm xúc, mà nó đụng đến phần sâu thẳm nhất của trái tim. Chúng ta xao xuyến vì chúng ta thấy mình mong manh. Chúng ta sợ mất đi những gì yên ổn đang có: tiền bạc, danh vọng, sức khỏe và cả mạng sống…

Nhưng hãy nhìn xem, Chúa Giêsu không phải là một vị Thiên Chúa “lạnh lùng” đứng từ xa để giảng đạo lý. Ngài đã từng xao xuyến đến đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu. Ngài thấu hiểu cái yếu đuối sợ hãi của chúng ta. Tuy nhiên, Ngài đưa ra một giải pháp không phải là “trốn chạy” thực tế, mà là đặt niềm tin đúng chỗ.

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong bài giảng ngày 10 tháng 5 năm 2020 tại Thư viện Phủ Tông tòa, đã dạy rằng:

“Chúa chỉ ra hai phương thuốc chữa trị khi gặp phiền não. Phương thuốc thứ nhất là: “Hãy tin vào Ta”. Lời khuyên này nghe có vẻ lý thuyết và trừu tượng. Nhưng thực ra, Chúa Giê-su muốn nói với chúng ta điều gì đó cụ thể hơn. Ngài biết rằng, trong cuộc sống, nỗi lo lắng, đau khổ tột cùng xuất phát từ cảm giác không thể đối phó, cảm thấy cô đơn và không có điểm tựa khi đối mặt với các sự kiện. Chúng ta không thể tự mình vượt qua nỗi đau khổ này, khi khó khăn này chồng chất khó khăn khác. Chúng ta cần sự giúp đỡ của Chúa Giê-su, và đó là lý do tại sao Chúa Giê-su yêu cầu chúng ta có đức tin nơi Ngài, nghĩa là không dựa vào chính mình mà dựa vào Ngài. Bởi vì sự giải thoát khỏi phiền não phụ thuộc vào việc phó thác bản thân…

.. Phương thuốc thứ hai cho sự phiền muộn, mà Chúa Giê-su đã diễn tả bằng những lời này: “Nhà Cha ta có nhiều chỗ ở… Ta đi chuẩn bị chỗ cho các ngươi” ). Đây là điều Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta: Ngài đã dành sẵn một chỗ trên Thiên đàng cho chúng ta. Ngài đã gánh lấy thân phận con người của chúng ta để mang nó vượt qua cái chết, đến một nơi mới, đến Thiên đàng, để chúng ta cũng được ở nơi Ngài đang ở. Chính sự chắc chắn đó an ủi chúng ta: có một chỗ đã được dành sẵn cho mỗi người trong chúng ta” [*].

Khi chúng ta lạc lối trong những toan tính trần gian, câu hỏi của ông Tôma vẫn còn đó: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14,5). Câu trả lời của Chúa Giêsu chính là niềm hy vọng: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14,6), Chúa không để chúng ta lạc lối bơ vơ, Chúa dẫn đường cho chúng ta đến nơi mà Ngài chuẩn bị sẵn cho chúng ta!

Anh chị em hãy tưởng tượng, thế gian này như một mê cung với đủ mọi ngõ ngách cám dỗ. Có những con đường thoạt nhìn rất đẹp, trải đầy danh lợi nhưng lại dẫn đến sự hủy hoại lương tâm. Còn “Con Đường Giêsu” có thể gồ ghề dấu chân thập giá, nhưng nó lại là con đường duy nhất dẫn về Nhà Cha – nơi có hạnh phúc đích thực.

Chúa Giêsu là Đường: Ngài không chỉ là người chỉ lối, mà Ngài là lộ trình. Đi trên đường Giêsu là sống theo phong cách của Ngài: yêu thương kẻ thù, phục vụ người nghèo và bao dung với người lầm lỗi.

Chúa Giêsu là Sự Thật: Trong một thế giới “vàng thau lẫn lộn”, lời của Ngài là kim chỉ nam giúp chúng ta phân định đâu là giá trị vĩnh cửu, đâu là phù hoa mau tàn.

Chúa Giêsu là Sự Sống: Ngài biến cái chết trở thành một giấc ngủ, biến đau khổ trở thành lễ vật. Khi bám lấy Ngài, chúng ta không còn sợ hãi sự hư nát của thân xác, vì Ngài đã hứa: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em… để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14,3).

Bài đọc II nhắc nhở chúng ta về một phẩm giá cao quý: “Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh.” (1Pr 2,9). Nếu chúng ta đã là dân thánh, là người của Nhà Cha, thì tại sao chúng ta còn phải hốt hoảng như những người không có đức tin?

Trong bài đọc I, các tín hữu sơ khai đã đối diện với sự xao xuyến bằng cách tổ chức lại cộng đoàn, chọn ra các phó tế để phục vụ bàn ăn, giúp các tông đồ tập trung vào cầu nguyện (Cv 6,1-7). Họ đã hóa giải sự bất ổn bằng tình bác ái và sự hiệp nhất. Đó chính là cách chúng ta đi trên “Con Đường Giêsu” hôm nay: đừng để nỗi lo riêng tư làm chúng ta đóng cửa lòng, nhưng hãy mở ra để phục vụ lẫn nhau.

Thưa anh chị em, mỗi khi chúng ta cảm thấy con thuyền cuộc đời mình bị sóng gió vùi dập, hãy nhớ đến câu chuyện với hình ảnh đứa trẻ bình tĩnh chơi đùa giữa cơn bão vì biết cha mình đang cầm lái. Thiên Chúa không hứa một cuộc đời không có bão tố, nhưng Ngài hứa sẽ cùng chúng ta đi qua bão tố.

Đừng để trái tim mình bị bóp nghẹt bởi những lo âu trần thế. Hãy tin tưởng vào lời của Chúa Giêsu. Khi chúng ta có Chúa trong lòng, mọi xao xuyến sẽ lùi xa, nhường chỗ cho một sự bình an sâu thẳm mà thế gian không thể ban tặng và cũng chẳng thể cướp mất.

Lạy Chúa Giêsu, Ngài là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống của chúng con. Xin cho chúng con luôn biết tin cậy vào Ngài, để giữa trăm chiều thử thách, chúng con vẫn vững bước về Nhà Cha.

Amen.


[*].Đức Thánh Cha Phanxicô, bài giảng ngày 10 tháng 5 năm 2020 tại Thư viện Phủ Tông tòa, https://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2020/documents/papa-francesco_regina-coeli_20200510.html.

Chúa Nhật thứ IV-  Mùa Phục Sinh – Năm A

Chúa Nhật thứ IV-  Mùa Phục Sinh – Năm A

CHÚA GIÊSU – VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH

“Thật, Tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào.” (Ga 10,7).

Cv 2,14a.36-41 ; 1Pr 2,20b-25; Ga 10,1-10

Lm. John Trần

Trong bầu khí hân hoan của mùa Phục Sinh, Giáo hội dành riêng Chúa Nhật IV này để tôn vinh Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành, đồng thời thiết tha mời gọi chúng ta cầu nguyện cho ơn gọi linh mục và tu sĩ. Hình ảnh người chăn chiên và đàn chiên vốn dĩ rất gần gũi với dân Do Thái xưa, nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa hình ảnh ấy lên một ý nghĩa mới.

1. Chúa Giêsu – Cửa dẫn vào đồng cỏ sự sống

Mở đầu bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định: “Thật, Tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào.” (Ga 10,7).

Khẳng định này làm tôi nhớ câu chuyện kể về một du khách đến Palestine, thấy người mục tử nằm ngủ ngay lối ra vào duy nhất của trại chiên không có cánh cửa gỗ. Khi được hỏi cửa đâu, người mục tử trả lời: “Chính tôi là cửa. Không một con chiên nào ra hay sói nào vào mà không bước qua thân xác tôi.” Chúa Giêsu chính là cái “Cửa” sống động đó. Ngài không chỉ là người canh gác, mà Ngài là lối đi duy nhất dẫn đến ơn cứu độ. Ngài tuyên bố: “Ai qua Tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và tìm được đồng cỏ.” (Ga 10,9). Trong thế giới hôm nay, có biết bao nhiêu “cánh cửa” hào nhoáng đang mời mọc chúng ta: cửa của sự giàu sang bất chính, cửa của hưởng thụ ích kỷ, hay những lối vào của các ý hệ sai lạc. Nhưng Chúa Giêsu cảnh báo rằng những kẻ không đi qua cửa mà leo rào vào đều là kẻ trộm và kẻ cướp. Chỉ có qua “Cửa Giêsu”, qua việc gắn bó với Người, chúng ta mới tìm thấy sự tự do đích thực và “được sống dồi dào” (Ga 10,10).

2.Lắng nghe tiếng gọi của Mục Tử Nhân Lành

Thách đố của chúng ta hôm nay là: Làm sao nhận ra tiếng Chúa giữa một thế giới quá nhiều tạp âm?

Không chỉ là cánh cửa, Chúa Giêsu còn là vị Mục Tử biết rõ từng con chiên một. Ngài “gọi tên từng con chiên một và dẫn chúng ra.” (Ga 10,3). Thiên Chúa không coi chúng ta là một đám đông vô danh. Ngài biết rõ nỗi đau, niềm hy vọng, và cả những vết sẹo trong tâm hồn mỗi người. Như Môsê xưa dẫn dân ra khỏi kiếp nô lệ, Chúa Giêsu đi trước chúng ta, đối đầu với hiểm nguy để bảo vệ đàn chiên.

Thánh Phêrô trong bài đọc II đã nhắc nhở chúng ta về cái giá của sự bảo vệ đó: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây gỗ… vì anh em đã được chữa lành nhờ những vết thương của Người.” (1 Pr 2,24). Vị Mục Tử này không đứng từ xa để điều khiển, nhưng Ngài dùng chính mạng sống mình để làm rào chắn bảo vệ chúng ta khỏi sói dữ là ma quỷ và sự chết.

Cộng đoàn thân mến, Tin Mừng ghi lại: “Chiên nghe tiếng của người chăn… và chiên theo người ấy vì chúng nhận biết tiếng của người.” (Ga 10,3-4).

Qua việc Tử nạn và Phục sinh, Ngài chứng tỏ mình là Mục tử thật, vì đối với Ngài mỗi người đều quí giá vô ngần. Ngài sẵn sàng hy sinh mạng sống vì chiên. Ngài chính là Vị Cứu thế đến cứu dân khỏi tội và đưa dân vào hạnh phúc trường sinh. Vậy tại sao chúng ta còn chần chờ gì không bước theo Ngài?

Một gia đình Khỉ nọ sống giữa một khu rừng già rậm rạp. Mùa đông đến, cả gia đình Khỉ rét run vì lạnh. Một đêm nọ, nhìn từ xa thấy một con Đóm Đóm đang bay lượn tưởng đó là cục than hồng. Dòng họ khỉ may mắn bắt lấy đem về cho thêm củi rơm và ngồi bu quanh mà sưởi. Có một con Khỉ Đột kề miệng sát vào Đom Đóm mà thổi phì phò hy vọng lửa mau bùng cháy. Một con chim bay qua thấy vậy cất tiếng nói :

– Các bạn ơi, không phải lửa đâu, chú Đom Đóm đó. Nhưng bọn Khỉ không tin cứ chúi đầu vào thổi. Con chim lại bay đến nói đó là Đom Đóm. Tức giận vì lời dạy khôn của con Chim, bầy Khỉ tóm được con Chim vặn cổ chết toi. Thế là bọn Khỉ yên trí không bị ai quấy rầy cứ phỏng cổ mà thổi vào con Đom Đóm. Sáng ngày hôm sau, người ta thấy cả gia đình Khỉ chết cóng ngay bên cạnh con Đom Đóm !

Như con chim trong câu chuyện trên, Chúa Giêsu, vị Mục tử nhân lành, vì không muốn chúng ta phải hư mất và bị cắn xé bởi Sói dữ luôn rình rập, Ngài luôn ở cạnh ta để chiến đấu và bảo vệ chúng ta. Ngài luôn gọi con người quay về con đường của Ngài, tuy nhiên, rừng xanh bao la, hoa cỏ cám dỗ, nước suối mát mẻ quyến luyến, gió thổi vi vu và vách đá êm ái… tất cả níu kéo chiên của Chúa, chiên của Chúa không muốn nghe tiếng Ngài, chiên của Chúa đôi lúc có nghe cũng không quay lại theo Ngài, bởi nó đang say mê ngủ vùi trong sự yên tĩnh giả tạo, hay cũng có khi nó mải mê nghe tiếng của kẻ trộm, để rồi bị chúng dẫn tới những cánh đồng hoang, những khu rừng rậm đầy thú dữ, đó chính là cuộc sống bất công gian ác, những ý hệ lệch lạc, những kiểu thời trang dị hợm, thích hưởng thụ, gian dối và chỉ muốn thỏa mãn con người xác thịt v.v.

Quả thực, đôi khi chúng ta giống như gia đình khỉ trong câu chuyện ngụ ngôn, vì quá lạnh giá và u tối nên đã lầm tưởng con đom đóm là cục than hồng. Chúng ta mải mê thổi vào những niềm hy vọng giả tạo – tiền bạc, danh vọng, thú vui nhất thời – để rồi tâm hồn vẫn giá lạnh và chết dần mòn. Khi có những “con chim” (là lời Giáo hội, là lương tâm) cảnh báo, chúng ta lại khó chịu và gạt đi.

Chúa Giêsu vẫn kiên trì gọi chúng ta. Ngài gọi chúng ta quay về từ những cánh đồng hoang của tội lỗi để đến với dòng suối Lời Chúa và lương thực Thánh Thể. Thánh Phêrô tha thiết kêu mời: “Anh em đã một thời lạc bước như những con chiên, nhưng nay đã quay về với vị Mục Tử và Đấng canh giữ linh hồn anh em.” (1 Pr 2,25).

3. Cầu nguyện cho những mục tử theo lòng Chúa mong ước

Hôm nay là ngày cầu nguyện cho ơn gọi. Giáo hội cần những mục tử biết “mang vào mình mùi chiên” như lời Đức Thánh Cha Phanxicô thường nói. Chúng ta cần những linh mục, tu sĩ không phải là những kẻ chăn thuê chỉ lo cho bản thân, nhưng là những người sẵn sàng hiến tế cuộc đời để phục vụ đoàn chiên.

Trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định: “Nếu không có mục tử, Giáo hội sẽ không thể thực hiện lệnh truyền của Chúa là loan báo Tin Mừng và cử hành các mầu nhiệm thánh.” (x.ĐTC.Gioan Phaolô II, 1992, số 1).

Chúng ta hãy cầu nguyện cho các vị mục tử hiện tại luôn kiên trung, và xin Chúa khơi dậy trong lòng các bạn trẻ khát vọng dấn thân. Đừng sợ hãi khi nghe tiếng Chúa gọi, vì đi theo Ngài là đi vào con đường của sự sống dồi dào.

Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành và là Cửa chuồng chiên, xin cho chúng con nhạy bén để nhận ra tiếng Chúa. Xin cho chúng con can đảm bước qua cánh cửa là chính Ngài để được ơn cứu độ. Và xin Chúa ban cho Giáo hội nhiều mục tử thánh thiện, những người biết yêu thương và dẫn dắt đoàn chiên bằng cả trái tim mình. Amen.

Chúa Nhật Tuần III – Mùa Phục Sinh – Năm A

Chúa Nhật Tuần III – Mùa Phục Sinh – Năm A

ĐỒNG HÀNH VỚI ĐẤNG PHỤC SINH – TỪ TUYỆT VỌNG ĐẾN HY VỌNG

Mời ông dừng lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn” (Lc 24,29).

(Cv 2,14.22b-33 – 1Pr1,17-21 – Lc 24,13-35)

Lm. John Trần

Trong hành trình đức tin của mỗi người, có lẽ không ít lần chúng ta thấy mình giống như hai môn đệ trên đường về làng Em-mau năm xưa: bước chân nặng nề, khuôn mặt ủ dột và tâm hồn đầy rẫy những mảnh vỡ vụn.

Tin Mừng theo thánh Lu-ca thuật lại một thực tại đau lòng: dù Chúa Giê-su Phục Sinh đã tiến đến gần và cùng đi với họ, nhưng “mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người” (Lc 24,16). Nỗi đau buồn vì cái chết của Thầy trên thập giá quá lớn, khiến họ chỉ còn thấy một nấm mồ u tối mà quên mất lời hứa phục sinh.

Hôm nay, chúng ta cùng nhìn sâu vào bức tranh cuộc đời để thấy rằng, con đường Em-mau ấy vẫn đang trải dài trong thế giới hiện đại.

1. Bóng tối trên những nẻo đường cuộc đời

Nhìn vào xã hội hôm nay, chúng ta thấy những bước chân trĩu nặng của nhân loại. Con người đang vật vã với bóng đen của chiến tranh, đói nghèo và những thiên tai dồn dập. Ngay trong lòng các gia đình – vốn là “Hội thánh tại gia” – sự đổ vỡ cũng đang diễn ra như một cơn sóng dữ. Có những gia đình mà cha mẹ cãi vã, đối xử với nhau như kẻ thù, dẫn đến sự chia lìa, để lại những đứa trẻ bơ vơ. Những tâm hồn non nớt ấy có cha mà như không cha, có mẹ mà không được hơi ấm vỗ về.

Những đau thương và thù hận ấy đè nặng lên vai con người, khiến họ cảm thấy thất vọng ê chề. Nhiều lúc, niềm tin vào Chúa cũng lung lay, họ không còn thấy hình bóng Thiên Chúa hiện diện trong đời mình nữa và tự hỏi: “Chúa ở đâu giữa những khổ đau này?”. Họ trở thành những người lữ hành tuyệt vọng giữa một thế giới vốn dĩ vẫn đầy ắp ân sủng của Thiên Chúa.

2. Sự đồng hành kiên nhẫn của Đấng Phục Sinh

Thế nhưng, chính trong lúc hai môn đệ tuyệt vọng nhất, Chúa Giê-su đã đến. Người không đến để trách móc sự chậm tin, cũng không đến để giảng giải một mớ lý thuyết khô khan, nhưng Người đến để đồng hành. Người bước đi cùng nhịp với họ, lắng nghe những lời than vãn, những tiếng thở dài. Người để họ trút hết nỗi lòng, rồi mới dùng Kinh Thánh để soi sáng cho họ hiểu rằng Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình rồi mới vào trong vinh quang (Lc 24,26).

Chúa Giê-su không cất đi thập giá ngay lập tức, nhưng Người soi sáng ý nghĩa của thập giá để trái tim họ được sưởi ấm lại. Trong Bài huấn dụ tại Quảng trường Thánh Phê-rô ngày 24 tháng 5 năm 2017, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắn nhủ rằng: “Có bao nhiêu nỗi buồn, bao nhiêu thất bại, bao nhiêu sai lầm trong cuộc đời mỗi người! Sâu thẳm trong lòng, tất cả chúng ta đều có phần nào đó giống hai môn đồ ấy. Bao nhiêu lần chúng ta đã hy vọng trong đời? Bao nhiêu lần chúng ta cảm thấy mình chỉ còn một bước nữa là đến hạnh phúc, rồi lại thấy mình bị đánh gục, thất vọng? Nhưng Chúa Giê-su đồng hành cùng tất cả những người nản lòng, cúi đầu buồn bã. Và bằng cách đồng hành một cách kín đáo, Ngài có thể khôi phục lại hy vọng cho họ….”[*].

Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người trong cơn bĩ cực. Sự hiện diện của Người đôi khi lặng lẽ, nhưng luôn bền bỉ qua Lời Chúa và Bí tích. Khi chúng ta cảm thấy bế tắc nhất, chính là lúc Người đang ở gần nhất, chỉ chờ chúng ta mở lòng để Người bước vào con thuyền đời mình.

3. Sức mạnh biến đổi từ Lời Chúa và Thánh Thể

Bài đọc I hôm nay cho thấy một Phê-rô hoàn toàn khác sau khi gặp Đấng Phục Sinh. Ông không còn là một kẻ chối Thầy vì sợ hãi, nhưng đứng ra làm chứng đầy can đảm trước đám đông rằng: “Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết” (Cv 2,24). Sức mạnh của Đấng Phục Sinh đã biến đổi một kẻ nhát đảm thành một nhân chứng đức tin kiên cường.

Để có được sự biến đổi ấy, chúng ta cần học cách của hai môn đệ Em-mau: lắng nghe Lời Chúa và tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Khi Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ, thì “mắt họ mở ra và họ nhận ra Người” (Lc 24,31). Chỉ khi ngồi lại bên bàn tiệc của Chúa, khi tâm hồn được nuôi dưỡng bằng chính Thịt Máu Người, chúng ta mới đủ nhạy bén để nhận ra Chúa đang hiện diện trong những người anh em nghèo khổ, trong người bạn đời đang lầm lỗi, hay trong chính những nghịch cảnh của mình.

Thánh Phê-rô trong bài đọc II nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự cứu chuộc: “Anh em đã được cứu chuộc… không phải bằng những thứ mau hư nát như vàng hay bạc, nhưng bằng máu châu báu của Con Chiên vẹn toàn, tì ố là Đức Ki-tô” (1Pr 1,18-19). Nếu Thiên Chúa đã trả một cái giá đắt như thế để cứu chúng ta, thì không có nỗi đau nào Người không thấu hiểu, không có bóng tối nào Người không thể chiếu sáng.

4. Sứ mạng trở thành “Người đồng hành”

Anh chị em thân mến, niềm hy vọng Kitô giáo không phải là một sự lạc quan tếu táo, nhưng là niềm xác tín vào một Đấng đã chiến thắng cái chết và đang sống.

Hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta không chỉ nhận ra Người, mà còn phải trở thành hình ảnh của Người đi bên cạnh tha nhân. Đồng hành với tha nhân có nghĩa là không áp đặt những con đường định sẵn, nhưng là cùng đi bên cạnh, tôn trọng tự do và lắng nghe với tình yêu thương anh chị em khổ đau, cô đơn cần chúng ta nâng đỡ ủi an.

Chúng ta hãy tự hỏi: Tôi có đang đồng hành với người bạn đời đang mệt mỏi của mình không? Tôi có lắng nghe nỗi lòng của con cái trước khi buông lời trách mắng? Tôi có hiện diện bên những người đang thất vọng để thắp lên trong họ một tia sáng của niềm tin?

Tóm lại:

Dù thế giới vẫn đầy rẫy thiên tai, dù gia đình có lúc sóng gió, hãy nhớ rằng Chúa Phục Sinh vẫn đang đi bên cạnh. Đừng để nỗi sợ hãi che khuất đôi mắt đức tin. Hãy thưa với Người như hai môn đệ: “Mời ông dừng lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn” (Lc 24,29).

Khi chúng ta mở cửa lòng đón Người vào, bóng tối tuyệt vọng sẽ tan biến, và như hai môn đệ, chúng ta sẽ lập tức “trỗi dậy” để loan báo cho thế giới rằng: “Chúa trỗi dậy thật rồi!” (Lc 24,34).

Lời ĐTC Phanxicô vẫn còn đó: “Bí quyết của con đường dẫn đến Emmaus đơn giản là: bất chấp vẻ bề ngoài trái ngược, chúng ta vẫn được yêu thương và Chúa sẽ không bao giờ ngừng yêu thương chúng ta. Chúa sẽ luôn đồng hành cùng chúng ta, ngay cả trong những khoảnh khắc đau đớn nhất, ngay cả trong những khoảnh khắc tồi tệ nhất, ngay cả trong những khoảnh khắc thất bại. Đó là nơi Chúa hiện diện. Và đó là niềm hy vọng của chúng ta. Hãy tiến bước với niềm hy vọng này! Bởi vì Ngài ở bên cạnh chúng ta và đồng hành cùng chúng ta. Luôn luôn!” [*].

Ước mong niềm vui Phục Sinh biến đổi cuộc đời chúng ta thành những chứng nhân của hy vọng, để ánh sáng Tin Mừng lan tỏa đến mọi ngõ ngách của tâm hồn. Amen.


Tham khảo tài liệu:

[*]. ĐTC.Phanxicô. (2017, 24 tháng 5). Bài giáo lý về Hy vọng Kitô giáo: Các môn đệ làng Em-mau. Vatican. Truy cập từ: https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2017/documents/papa-francesco_20170524_udienza-generale.html

Thứ Hai – Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Thứ Hai - Tuần Bát Nhật Phục Sinh

HAI THÁI ĐỘ TRƯỚC TIN MỪNG PHỤC SINH

 “Không, các môn đệ đã đến và cướp xác chết”.

Cv 2,14.22-33; Mt 28,8-15

Lm. John Trần

Trong niềm hân hoan rạng rỡ của Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngắm hai thái độ hoàn toàn trái ngược nhau trước cùng một biến cố: Ngôi mộ trống. Đó là thái độ của những người phụ nữ đạo đức và thái độ của nhóm lính canh vô cảm.

Từ nỗi sợ hãi đến niềm vui loan báo

Thứ Hai sau Lễ Phục Sinh còn được gọi là Thứ Hai của Thiên Thần vì chúng ta tưởng nhớ cuộc gặp gỡ giữa thiên thần với những người phụ nữ đến mộ Chúa Giêsu (xem Mt 28:1-15) [*]. 

Đối diện với ngôi mộ trống và sứ điệp của thiên thần, các phụ nữ đã trải qua một sự xúc động sâu xa. Ban đầu, các bà mang trong mình sự sợ hãi. Nhưng đây không chỉ là nỗi sợ tâm lý thuần túy trước một hiện tượng lạ, mà là một cảm nghiệm siêu nhiên – một sự “kính sợ” thánh thiện, giống như Môsê hay Êlia thuở xưa khi được diện kiến Đức Chúa.

Đứng trước ánh sáng rực rỡ của Đấng Phục Sinh, nỗi sợ hãi đớn đau của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đã hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho sự kính sợ trước quyền năng tuyệt hảo của Thiên Chúa. Quá trình biến đổi tâm lý ấy diễn ra thật đẹp: từ sợ hãi, đến đón nhận, kính sợ, và bừng lên niềm tin tưởng. Chính niềm tin ấy đã không để các bà rơi vào tình trạng ù lỳ hay thụ động. Ngược lại, nó thôi thúc các bà tràn ngập niềm vui và “vội vã chạy đi báo tin cho các môn đệ”. Các bà đã trở thành những sứ giả đầu tiên của Tin Mừng Phục Sinh.

Sự bưng bít của sự gian dối và quyền lực đồng tiền

Ngược lại hoàn toàn với các phụ nữ, ngôi mộ trống đã không thể trở thành điểm khởi đầu cho ơn cứu độ đối với nhóm lính canh. Biến cố vĩ đại ấy không đủ sức làm lay động những con người đã bị lòng tham làm cho mù quáng. Bị cám dỗ bởi chút lợi lộc vật chất, họ hối hả chạy về báo cho các thượng tế để tìm cách bưng bít sự thật. Thượng hội đồng liền nhóm họp, và họ dùng tiền để bóp méo chân lý.

Trong buổi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng vào ngày Thứ Hai Phục Sinh năm 2021, Đức Thánh Cha Phanxicô đã suy niệm rất chua xót về sự tha hóa này. Ngài gọi đó là sự chen chân của “thần tài” (chúa tể tiền bạc). Ngài nói: Và những người đáng thương đó, những người đáng thương, đã bán đứng sự thật, và với số tiền trong túi, họ tiếp tục nói: “Không, các môn đệ đã đến và cướp xác chết”. “Chúa tể” là tiền bạc, ngay cả ở đây, trong sự phục sinh của Chúa Kitô, cũng có khả năng phủ nhận sự thật[*].

Sự gian dối và chai lì của họ đã đạt tới đỉnh điểm khi họ kiên quyết từ chối ánh sáng Phục Sinh. Bằng việc làm tay sai cho sự dối trá, họ đã tự loại trừ chính mình khỏi niềm vui của ơn cứu độ, tước đi cơ hội được cất tiếng reo hò cùng Đấng chiến thắng tử thần.

Soi rọi lại đời sống người Kitô hữu

Kính thưa cộng đoàn, mỗi Kitô hữu chúng ta hôm nay cũng là những người được lãnh nhận Tin Mừng Phục Sinh và được trao phó sứ mạng đem Tin Vui ấy đến cho tha nhân. Thế nhưng, giữa dòng đời ngược xuôi, biết bao lần chúng ta lại mang dáng dấp của nhóm lính canh kia?

Có thể vì sợ hãi trước những quyền lực trần thế, hay vì ham muốn một chút lợi lộc, tiện nghi tạm bợ, đôi lúc ta đã đành lòng phản bội Tin Mừng. Có thể vì quá cậy dựa vào sức mạnh của danh vọng, địa vị và thú vui thế gian, tâm hồn ta trở nên chai lì, tự mãn, ngỡ rằng mình chẳng cần đến ơn Chúa. Hậu quả là, chúng ta biến mình thành những kẻ sống đạo giả dối, chỉ thờ phượng Chúa bằng hình thức bên ngoài đầy vụ lợi, thay vì bằng một trái tim chân thật.

Ước gì trong niềm vui Phục Sinh hôm nay, chúng ta can đảm tháo gỡ mọi lớp mặt nạ của sự gian dối. Đừng bao giờ sống như thể Chúa Giêsu đang vắng mặt hay nấp sau bóng tối của nấm mồ. Hãy tin rằng Chúa Phục Sinh đang sống, đang hiện diện và chờ đón chúng ta mỗi ngày, để biến đổi cuộc đời chúng ta thành bài ca Alleluia rực rỡ nhất. Amen.


Tài liệu tham khảo:

[*] Đức Thánh Cha Phanxicô, Huấn dụ trước kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng (Regina Caeli) – Thứ Hai Phục Sinh, ngày 05/04/2021. https://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2021/documents/papa-francesco_regina-caeli_20210405.html