Thứ  Năm Tuần IV TN, Thánh Agatha-Trinh nữ, Tử đạo

Thứ Năm Tuần IV TN, Thánh Agatha-Trinh nữ, Tử đạo

CHỨNG NHÂN CỦA MỘT TÌNH YÊU HIẾN TẾ

1V 2,1-4.10-12 (Dt 12, 18-19. 21-24); Mc 6,7-13

Lm.Jn.Trần

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu sai mười hai môn đệ ra đi truyền giáo với một hành trang kỳ lạ: không bánh ăn, không bao bị, không tiền giắt lưng (x. Mc 6,8). Chúa muốn các ông hiểu rằng: Sức mạnh của người truyền giáo không nằm ở phương tiện vật chất, mà nằm ở sức mạnh nội tâm và quyền năng của Tin Mừng. Người tông đồ không ra đi để “quảng cáo” một mớ lý thuyết suông, nhưng là để trở thành những chứng nhân sống động.

Hôm nay, Giáo hội mừng kính Thánh Agatha, một trinh nữ tử đạo vào thế kỷ thứ III. Cuộc đời Ngài chính là lời giải đáp hùng hồn nhất cho lệnh truyền của Chúa Giêsu. Thánh Agatha không chỉ rao giảng bằng lời, nhưng bằng chính máu đào và sự vẹn tuyền của trái tim. Giữa một thế gian đầy rẫy những cám dỗ về quyền lực và dục vọng, ngài đã chọn thuộc trọn về Đức Kitô, chấp nhận đau đớn thể xác để giữ vững niềm tin.

Bàn về sứ mạng này, trong Tông huấn Loan báo Tin Mừng (Evangelii Nuntiandi), Đức Thánh Cha Phaolô VI đã khẳng định một chân lý bất hủ: “Con người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào thầy dạy là vì các thầy dạy ấy đã là những chứng nhân” (Số 41).

Chứng nhân là gì?

  • Đó là khi người Kitô hữu sống giữa lòng đời mà vẫn chiếu tỏa được sự bao dung, khả năng đón tiếp và chia sẻ với mọi người, kể cả những ai không cùng niềm tin.
  • Đó là khi chúng ta sống thanh khiết giữa một thế giới buông thả, sống ngay thẳng giữa những quanh co, và sống quảng đại giữa những ích kỷ hẹp hòi.

Cũng như Thánh Agatha đã can trường đối diện với những cực hình mà không sờn lòng, người Kitô hữu hôm nay được mời gọi ra đi “không bao bị, không tiền bạc” – tức là gạt bỏ đi những tính toán cá nhân, những thành kiến che lấp sự thật. Chúng ta làm chứng cho Chúa không phải bằng những việc làm vang dội, mà bằng việc âm thầm xoa dịu những nỗi đau, an ủi những người neo đơn và đứng về phía những kẻ yếu thế.

Lời của vua Đavít với con là Salomon trong bài đọc I cũng nhắc nhở chúng ta: “Con hãy giữ các giới luật của Chúa, Thiên Chúa của con… để con làm gì và đi đâu cũng được thành công” (1V 2,3). Sự thành công của người Kitô hữu không đo bằng tiền tài, nhưng đo bằng sự trung tín với Thiên Chúa đến hơi thở cuối cùng, như chính Thánh Agatha đã thực hiện.

Máu của thánh nữ đã đổ ra, nhưng hương thơm của sự trinh khiết và lòng dũng cảm vẫn còn mãi. Xin cho mỗi chúng ta, khi trở về với cuộc sống thường nhật, biết thắp lên ngọn nến của niềm hy vọng, để thế giới này nhìn vào cách chúng ta sống mà nhận ra rằng: Thiên Chúa là tình yêu và Ngài đang hiện diện giữa họ.

Lạy Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Thánh nữ Agatha, xin cho chúng con luôn can đảm sống đúng danh hiệu Kitô hữu, để cuộc đời chúng con trở thành bài giảng sống động nhất về Tin Mừng cứu độ. Amen.

Thứ 2 Tuần 4 TN- Lễ Dâng Chúa Giêsu Trong Đền Thánh (Lễ Nến 2/2)

Lễ Dâng Chúa Giêsu Trong Đền Thánh (Lễ Nến 2/2)

Ngày Quốc Tế Đời Sống Thánh Hiến

ĐÓN NHẬN ÁNH SÁNG – THẮP SÁNG HY VỌNG

Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa” (Lc 2,23).

Ml 3,1-4; Dt 2,14-18; Lc 2,22-40- (Lc 2,22-32)

Lm. John Trần

Hôm nay, trong bầu khí linh thiêng và rực rỡ của Lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh, hay chúng ta vẫn gọi là Lễ Nến, cả nhà thờ rực sáng bởi những ngọn nến trên tay anh chị em. Những đốm lửa nhỏ bé ấy không chỉ để xua tan bóng tối vật lý, mà còn để tuyên xưng một chân lý đức tin vĩ đại: Đức Giêsu Kitô chính là Ánh Sáng vĩnh cửu, Đấng đến để xua tan màn đêm của tội lỗi và sự chết.

Bài Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay dẫn đưa chúng ta bước vào Đền Thờ Giêrusalem, tham dự vào một cuộc gặp gỡ kỳ diệu. Đức Maria và Thánh Giuse, trong sự vâng phục khiêm cung đối với Lề Luật, đã đem Hài Nhi Giêsu tiến dâng cho Thiên Chúa. “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa” (Lc 2,23). Tuy nhiên, ẩn sâu dưới nghi thức tuân thủ lề luật ấy là một mầu nhiệm lớn lao hơn: Chủ của Đền Thờ đang bước vào Đền Thờ của Ngài.

Tại đây, chúng ta bắt gặp cụ già Simêôn và bà Anna. Họ là hình ảnh của một dân tộc Israel trung thành, mòn mỏi đợi trông. Khi đôi tay già nua của Simêôn bồng ẵm Hài Nhi bé bỏng, một luồng sáng đức tin đã bừng lên mãnh liệt. Ông không nhìn thấy một đứa trẻ bình thường, mà nhận ra Đấng Cứu Độ. Lời kinh Nunc Dimittis (An Bình Ra Đi) của ông đã trở thành bản trường ca hy vọng cho toàn thể nhân loại: “Chính mắt con đã thấy ơn cứu độ… Ánh sáng soi đường cho dân ngoại, và vinh quang của Ít-ra-en dân Ngài” (Lc 2,30-32).

Thưa anh chị em, Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy chúng ta rằng: “Việc dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh cho thấy Ngài là Con Đầu Lòng thuộc về Chúa… Simêôn và Anna tượng trưng cho toàn thể sự mong đợi của Israel nay đến gặp Đấng Cứu Chúa của mình” (CCC 529) [1]. Cuộc gặp gỡ này không chỉ là lịch sử, mà là hiện tại. Mỗi lần chúng ta tham dự Thánh Lễ, rước Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta cũng đang bồng ẵm Chúa trên đôi tay và trong tâm hồn mình như cụ Simêôn xưa.

Nhưng ánh sáng hôm nay không chỉ để chiêm ngắm, mà còn để lan tỏa. Hình ảnh bà Anna, một góa phụ tám mươi tư tuổi, “không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa” (Lc 2,37), nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của đời sống cầu nguyện và chứng tá. Ngay khi gặp Chúa, bà đã “nói về Người cho tất cả những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc” (Lc 2,38). Bà Anna chính là mẫu gương của một nhà truyền giáo hăng say và trọn vẹn, người đã để ánh sáng Chúa thắp lên niềm hy vọng trong lòng người khác.

Trong Bài giảng ngày 2 tháng 2 năm 1996, nhân ngày Đời sống Thánh hiến, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhắn nhủ rằng: “Chúa Kitô là ánh sáng của các dân tộc. Ánh sáng này không được đặt dưới thùng, nhưng trên giá để soi chiếu cho mọi người trong nhà. Sự thánh hiến của các con phải là ánh sáng rạng ngời, chiếu tỏa sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới” [2].

Lời nhắn nhủ ấy càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh thế giới hôm nay. Anh chị em hãy nhìn xem, bóng tối vẫn đang bao phủ nhiều nơi: bóng tối của chiến tranh, của sự nghèo đói, của sự dửng dưng vô cảm nơi đô thị phồn hoa, hay những lo âu về kinh tế khiến bao gia đình điêu đứng. Giữa đêm tối ấy, người Kitô hữu chúng ta được mời gọi trở thành những “cây nến sống”.

Cây nến sáp mà anh chị em cầm trên tay có ý nghĩa thật sâu sắc. Sáp ong tinh tuyền tượng trưng cho nhân tính vẹn sạch của Chúa Kitô, ngọn lửa là thần tính của Ngài. Cây nến chấp nhận tiêu hao chính mình để phát ra ánh sáng. Cũng vậy, để đem lại niềm vui và bình an cho người khác, chúng ta phải chấp nhận “tiêu hao” cái tôi ích kỷ, tiêu hao thời gian và công sức của mình.

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong một huấn dụ gần đây, cũng đã mời gọi: “Đừng để niềm hy vọng bị đánh cắp. Hãy là những người canh gác buổi sáng, những người biết nhìn thấy ánh sáng ngay cả khi màn đêm vẫn còn dày đặc” [3]. Và trong bài huấn dụ của ĐTC Phanxicô với các Bề trên Tổng quyền các dòng nữ lúc 11h45 ngày 10/5/2019, ngài trăn trở với các nữ tu rằng: “Tôi nhắc lại một cách mạnh mẽ những gì tôi đã nói trong những dịp khác: đừng sợ ít (giảm số người đi tu-người viết), nhưng phải sợ không còn là ánh sáng soi cho những người đang đắm chìm trong ‘đêm tối’ của lịch sử. Đừng sợ ‘thú nhận với lòng khiêm nhường và với niềm tin lớn vào tình yêu Thiên Chúa, về sự yếu đuối của mình, Nhiều người đang cần đến những nụ cười thân thiện của các nữ tu để giúp họ tự tin trở lại. Không bao giờ nhượng bộ trước sự cám dỗ quy về mình, trở thành “đội quân khép kín” [4].ĐTgặp các Bề trên Tổng quyền các dòng nữ 

ĐTC gặp các Bề trên Tổng quyền các dòng nữ – Nguồn : www.vaticannews.va/vi/ [4]

Thế nên, Lễ Nến hôm nay mời gọi chúng ta hai điều:

Thứ nhất, như Simêôn, biết đón nhận Chúa vào lòng qua Bí tích Thánh Thể và Lời Chúa, để tâm hồn tìm được sự bình an đích thực.

Thứ hai, như Anna, biết trao ban Chúa cho anh chị em. Đừng giữ ánh sáng ấy cho riêng mình. Một lời động viên cho người đang thất vọng, một sự giúp đỡ cho người nghèo khó, một thái độ sống công bình bác ái tại nơi làm việc – đó chính là ánh sáng của Chúa Kitô đang tỏa rạng qua anh chị em.

Khi chúng ta cầm nến trở về nhà hôm nay, xin đừng để ngọn lửa đức tin tắt lịm ngoài cửa nhà thờ. Hãy thắp sáng nó trong gia đình, trong khu xóm và nơi làm việc của mình.

Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Ánh Sáng, và Thánh Cả Giuse cầu thay nguyện giúp, để mỗi người chúng ta trở thành một ngọn nến cháy sáng niềm vui, bình an và hy vọng của Tin Mừng giữa lòng thế giới.

Amen.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Giáo Hội Công Giáo, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 529.

[2] Đức Gioan Phaolô II, Bài giảng Lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh – Ngày Đời sống Thánh hiến lần thứ I, Rôma, ngày 2 tháng 2 năm 1996.

[3] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm Vui Tin Mừng), số 86.

[4]. Đức Phanxicô, huấn dụ của ĐTC Phanxicô với các Bề trên Tổng quyền các dòng nữ lúc 11h45 ngày 10/5/2019, https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2019-05/dtc-gap-cac-be-tren-tong-quyen-cac-dong-nu.html

Thứ Bảy Tuần III TN, Thánh Gioan Bosco, LM – 31/1

Thứ Bảy Tuần III Thường Niên, Thánh Gioan Bosco, Linh mục - 31/1

VƯỢT QUA “BÃO TỐ” CÙNG GIOAN BOSCO

“Thầy ơi, chúng con chết mất!”.

 2 Sm 12,1-7a.10-17; Mc 4,35-41

Lm. John Trần

Giáo Hội hôm nay mừng kính Thánh Gioan Bosco – người cha, người thầy và người bạn của giới trẻ. Ngài chính là vị “thuyền trưởng” tài ba đã học nơi Chúa Giêsu cách dẹp yên những cơn bão trong tâm hồn những đứa trẻ đường phố.

  1. Những cơn bão của giới trẻ :

Thời Thế kỷ 19: Tại Turin (Ý), Don Bosco nhìn thấy hàng ngàn thanh thiếu niên đang bị cuốn vào cơn bão của đói nghèo, thất học và tội phạm. Các em như những con thuyền không lái, trôi dạt vào nhà tù và các khu ổ chuột. Chúng ta có thấy hình ảnh đó quen thuộc không? Ngày nay, con em chúng ta cũng đang đối mặt với những cơn bão khác: bão của game online, thiết bị số, bão của lối sống hưởng thụ, bão của sự vô cảm. Các em dễ hoảng loạn và lạc lối như các môn đệ xưa: “Thầy ơi, chúng con chết mất!”.

  • Bí quyết “dẹp bão” của Don Bosco

 Làm sao Don Bosco cứu được các em? Ngài không dùng roi vọt hay quyền lực áp đặt. Ngài dựa trên ba cột trụ: Lý trí, Tôn giáo và Tình thương.

  • Như ngôn sứ Na-than: Don Bosco nhẹ nhàng đánh thức lương tâm các em qua Bí tích Hòa giải. Ngài dạy: “Xưng tội là chìa khóa mở cửa Thiên Đàng”. Giống như Đa-vít được tha thứ khi nhận lỗi, các em tìm thấy bình an khi trút bỏ gánh nặng tội lỗi.
  • Như Chúa Giêsu trên thuyền: Don Bosco đặt Chúa Giêsu Thánh Thể làm trung tâm. Ngài nói: “Các con muốn nên thánh? Dễ thôi. Hãy vui chơi, nhưng đừng phạm tội”. Nguyện xá (Oratory) của ngài là con thuyền an toàn, nơi tiếng cười đùa hòa quyện với lời cầu nguyện, nơi bão tố cuộc đời dừng lại ngoài cánh cửa.
  • Bài học cho chúng ta hôm nay

Kính thưa anh chị em, mỗi gia đình chúng ta là một chiếc thuyền, và cha mẹ là những người cầm lái. Noi gương Thánh Gioan Bosco, chúng ta hãy:

  • Đánh thức lương tâm bằng tình thương: Khi con cái sai lỗi, đừng vùi dập chúng như cơn bão, mà hãy kiên nhẫn sửa dạy như Na-than, dẫn con đến với tòa giải tội để Chúa chữa lành.
  • Mời Chúa lên thuyền: Đừng QUÊN Chúa trong gia đình. Hãy đánh thức Ngài bằng kinh nguyện tối, bằng việc tham dự Thánh Lễ. Có Chúa, mọi sóng gió gạo tiền hay mâu thuẫn sẽ được hóa giải.
  • Quan tâm đến người trẻ: Hãy nhìn những đứa trẻ ngỗ nghịch bằng ánh mắt của Don Bosco – ánh mắt nhìn thấy “hạt ngọc” ẩn giấu bên trong lớp vỏ xù xì, và giúp chúng tỏa sáng.

Nguyện xin Thánh Gioan Bosco cầu thay nguyện giúp, để mỗi người chúng ta biết cậy trông vào quyền năng Chúa Giêsu, Đấng phán một lời thì biển đời liền lặng gió. Amen.

Thứ Tư Tuần 3 TN -Thánh Tôma Aquinô, LM,TSHT – 28/01

Thứ Tư Tuần 3 TN - LỄ NHỚ THÁNH TÔMA AQUINÔ, LM-TSHT - 28/01

VUN XỚI MẢNH ĐẤT TÂM HỒN

“Ai nghe Lời và đón nhận, sinh hoa trái” (Mc 4,20)

 2 Sm 7,4-17; Mc 4,1-20

Lm. John Trần

Hôm nay, phụng vụ Lời Chúa và lễ nhớ Thánh Tôma Aquinô hòa quyện vào nhau một cách tuyệt vời qua hình ảnh “ngôi nhà” và “hạt giống”.

1. Thiên Chúa – Người Kiến Trúc Sư vĩ đại

Trong bài đọc một, chúng ta nghe vua Đavít muốn xây cho Chúa một ngôi đền thờ bằng đá. Nhưng Thiên Chúa đã đảo ngược suy nghĩ của ông. Chúa nói qua tiên tri Nathan: “Không phải ngươi sẽ xây nhà cho Ta, mà chính Ta sẽ xây nhà cho ngươi” (x. 2 Sm 7,11). Ngôi nhà Chúa xây không phải bằng gỗ đá vô tri, mà là một dòng dõi vĩnh cửu, một Vương quốc bền vững. Lời hứa ấy đã ứng nghiệm trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô – Đấng thuộc dòng dõi Đavít, Đấng đã thiết lập “Ngôi Nhà” thiêng liêng là Hội Thánh.

Thiên Chúa luôn đi trước ý định của con người. Ngài không cần những công trình đồ sộ bên ngoài, Ngài cần một tâm hồn rộng mở để Ngài xây dựng vương quốc của Ngài bên trong.

2. Thánh Tôma Aquinô – Mảnh đất tốt trổ sinh trăm hạt

Chuyển sang bài Tin Mừng, Chúa Giêsu kể dụ ngôn người gieo giống. Có những hạt rơi vệ đường, bụi gai, sỏi đá… nhưng cũng có hạt rơi vào đất tốt. Thánh Tôma Aquinô mà chúng ta mừng kính hôm nay chính là minh chứng hùng hồn nhất cho mảnh đất tốt ấy.

Chiêm ngưỡng Thánh Tôma Aquinô, hạt giống nảy mầm tuyệt diệu. Ngài sinh năm 1225 tại Rocca Sicca (Ý), dòng dõi quý tộc, ngài được gửi học Monte Cassino rồi Napoli. Gặp anh em Đaminh, Tôma say mê trí tuệ đức tin, gia nhập dòng dù mẹ và anh em giam cầm phản đối, sau thoát khỏi, ngài học với Thánh Albertô Cả, viết Summa Theologiae – kiệt tác giải thích đức tin như “ánh sáng thiên thần“. Tuy Ngài được gọi là Doctor Angelicus, nhưng ngài vui mừng cầu nguyện, luôn khiêm tốn: “Tất cả đều là rơm rạ so với Lời Chúa“. Sau ngài được Đức Grêgôriô X mời dự Công đồng Liôn, ngài qua đời 1274 tại Fossanova. Xương ngài nay ở Toulouse. Như thế đó, Lời Chúa trong lòngThánh Tôma sinh trăm quả: vì ngài luôn bảo vệ đức tin chống lạc giáo, dạy muôn thế hệ, đặc biệt là thần học của ngài.

3. Chúng ta là loại đất nào?

Dụ ngôn người gieo giống là một tấm gương cho chúng ta soi. Chúng ta là cánh đồng Chúa gieo giống, Hạt giống Lời Chúa vẫn được gieo mỗi ngày qua Thánh Lễ, qua kinh nguyện. Nhưng năng suất thu hoạch lại tùy thuộc vào chất đất của lòng chúng ta.

  • Có khi chúng ta là vệ đường: nghe tai này qua tai kia vì tâm hồn quá chai cứng, dửng dưng.
  • Có khi chúng ta là đất sỏi: hào hứng lúc đầu nhưng khi gặp thử thách, bệnh tật hay trái ý thì đức tin héo úa.
  • Có khi chúng ta là bụi gai: để những lo toan cơm áo gạo tiền, hay sự cám dỗ của điện thoại, mạng xã hội bóp nghẹt giờ kinh tối sớm.

Thánh Tôma mời gọi chúng ta hãy cày xới lại mảnh đất tâm hồn. Đừng sợ đất cứng, vì ơn Chúa có thể làm mềm mọi sỏi đá, miễn là chúng ta chịu cộng tác.

Mừng lễ Thánh Tôma, xin cho mỗi người chúng ta, cách riêng là các bạn trẻ và những người đang trau dồi tri thức, biết tìm kiếm Chân Lý vẹn toàn là chính Chúa. Để từ mảnh đất tâm hồn này, hạt giống Tin Mừng không chỉ nảy mầm cho riêng mình, mà còn trổ sinh hoa trái bác ái và sự thật cho đời.

Lạy Thánh Tôma, xin cầu cho chúng con đón nhận và say mê Lời Chúa như ngài, để Nước Trời lớn lên trăm bề. Amen!

Thứ Hai Tuần III TN-A – Lễ nhớ Thánh Timôthê và Titô (26/1)

Thứ Hai Tuần III TN-A - Lễ nhớ hai Thánh Giám mục Timôthê và Titô (26/1)

TIMÔTHÊ VÀ TITÔ: NHỮNG THỢ GẶT NHIỆT THÀNH

“Thầy để anh lại Crete để sửa chữa những gì còn khiếm khuyết” (Tt 1,5)

2 Tm 1,1-8; Tt 1,1-5; Lc 10,1-9; Mc 4,26-34

Hôm nay, trong bầu khí hân hoan của Lễ nhớ hai Thánh Giám mục Timôthê và Titô, chúng ta dừng lại nơi lời mời gọi khẩn thiết của Chúa Giêsu trên cánh đồng truyền giáo: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít” (Lc 10,2). Hình ảnh ấy không chỉ là một lời than thở, mà là một lời mời gọi dấn thân, và hai vị thánh mà chúng ta mừng kính hôm nay chính là những “thợ gặt” nhiệt thành, là những hoa trái đầu mùa tuyệt đẹp của thời đại các Tông đồ.

Thánh Phaolô, người thầy vĩ đại của dân ngoại, đã không đơn độc trong hành trình gieo hạt giống Tin Mừng. Ngài có những người con tinh thần, những người cộng sự đắc lực.

Trước hết, chúng ta hãy chiêm ngắm Thánh Timôthê. Ngài là kết tinh của một gia đình đạo đức tại Lycaonia, với người cha Hy Lạp và người mẹ Do Thái thánh thiện tên là Êunikê. Đức tin của Timôthê không tự nhiên mà có, nhưng được “rót vào hồn” từ bà ngoại Lois và mẹ ngài, như Thánh Phaolô đã xác nhận về “đức tin chân thành” nơi ngài (x. 2 Tm 1,5).

Cuộc đời Timôthê là một hành trình “khơi dậy ân sủng” (x. 2 Tm 1,6). Dù sức khỏe mong manh và bản tính có phần rụt rè, nhưng khi gặp Thánh Phaolô tại Lystra, ngài đã can đảm bước theo thầy. Chịu cắt bì để hòa nhập với người Do Thái, Timôthê đã cùng Phaolô bôn ba khắp Tiểu Á và Hy Lạp. Ngài đã nếm trải đòn vọt tại Philippi, chứng kiến mưa đá tại Lycaonia, và cuối cùng dừng chân tại Êphêsô để chống lại lạc giáo. Theo truyền thống, ngài là Giám mục tiên khởi của Êphêsô và đã tử đạo vào khoảng năm 97, hiện diện mãi mãi trong ký ức Giáo Hội qua thánh tích tại Termoli, nước Ý.

Bên cạnh nét dịu dàng của Timôthê là sự cương nghị của Thánh Titô, Như Phaolô nói, Titô là “đồng sự yêu quý” (2 Cr 8,23).. Ngài là người Hy Lạp, xuất thân ngoại giáo, là bằng chứng sống động cho thấy ơn cứu độ phổ quát. Titô là người kiến tạo hòa bình và trật tự. Chính ngài đã cùng Phaolô dự Công đồng Giêrusalem năm 49 để bảo vệ tự do cho người tín hữu gốc dân ngoại (x. Gl 2,1-3). Nếu Timôthê là người con an ủi, thì Titô là người chiến sĩ chấn chỉnh. Phaolô đã sai ngài đến đảo Cratê – nơi nổi tiếng với sự hỗn loạn đạo đức và dân chúng “chuyên dối trá, tham lam” (x. Tt 1,12) – với sứ mạng: “Sửa chữa những gì còn khiếm khuyết” (Tt 1,5). Titô đã tổ chức Giáo Hội tại đó vững mạnh và an nghỉ trong tuổi già bình an.

Hai vị thánh, hai tính cách, hai hoàn cảnh xuất thân khác biệt, nhưng cùng chung một nhịp đập trái tim với Tin Mừng. Trong buổi Tiếp kiến chung ngày 13 tháng 12 năm 2006, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã suy niệm về hai vị thánh này và nhắn nhủ chúng ta rằng: “Timôthê và Titô dạy chúng ta phục vụ Tin Mừng với lòng quảng đại, biết rằng đây không phải là công việc của riêng ta mà là của Chúa.”

Ngày nay, cánh đồng lúa vẫn chín vàng và chờ đợi tay người gặt. Mỗi người chúng ta, dù là bậc cha mẹ đang dạy con đức tin như bà Lois và mẹ Êunikê, hay những người trẻ đang dấn thân giữa xã hội đầy thách đố như Titô tại Cratê, đều được mời gọi trở thành cộng sự của Thiên Chúa. Đừng sợ hãi sự nhỏ bé của mình, vì Nước Thiên Chúa như hạt giống, “đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nảy mầm và mọc lên” (Mc 4,27) nhờ quyền năng của Chúa.

Xin Chúa, qua lời chuyển cầu của hai Thánh Giám mục, ban cho chúng ta ơn can đảm để “không hổ thẹn vì lời làm chứng cho Chúa” (2 Tm 1,8), hầu đem niềm vui và bình an của Tin Mừng đến cho mọi người. Amen.