Thứ Bảy Tuần IV – Mùa Chay

Thứ Bảy Tuần V – Mùa Chay

CHÚA GIÊSU LÀ AI

“Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi”

Gr 11,18-20 ; Ga 7,40-53

Lm.John Trần

Chúa Giêsu là ai? Đó là câu hỏi đặt cho tất cả mọi người. Từ thời Chúa Giêsu, người ta nói, người ta bàn tán rất nhiều về Ngài với những ý kiến trái chiều, có những người bênh vực Chúa, nhưng cũng không thiếu những người ngăn cản người ta tuyên xưng Chúa, điều này thất rõ trong Tin mừng hôm nay ta tạm liệt kê bốn nhóm người khác nhau:

Nhóm thứ nhất đối lại với Chúa Giêsu, luôn chống lại và tìm cách giết Chúa, họ là những nhà lãnh đạo dân chúng, có ảnh hưởng nhiều trên dân của họ, họ coi Chúa là cái gai cần nhổ đi.

Nhóm thứ hai là dân chúng, khi bàn về Đức Giêsu, nhiều người nói thế này, Những kẻ khác lại nói thế kia, họ bàn rằng “Ông này thật là vị ngôn sứ.” Kẻ khác rằng: “Ông này là Đấng Ki-tô.” Nhưng có kẻ lại nói: “Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao? Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đavít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao?” Vậy, vì Ngài mà những người này đã tự chia rẽ, mất sự hiệp nhất.

Nhóm thứ ba là những người lính, chính các vệ binh có nhiệm vụ giữ an ninh trật tự công cộng này, tuy ít học, nhưng đã có những suy nghĩ rất chính xác và rất rõ nét như một lời ca ngợi: “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy”, nhưng vì câu nói tốt cho Chúa này đã làm ảnh hưởng đến các kẻ chống đối Chúa, thế nên họ bị trách tàn tệ:  “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? Trong hàng thủ lãnh và giới tri thức biệt phái có ai tin vào tên ấy đâu ? Chỉ có bọn hạ lưu cặn bã như các anh mới phạm sai lầm xét đoán như thế thôi“.

Nhóm thứ tư, đại diện là một người trong nhóm PhariSiêu, tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su ; ông nói với họ về lề luật, lề luật phải thực thi chính xác với Chúa là Đấng vô tội,  và cái phản ứng nhút nhát, rụt rè của Nicôđêmô cũng bị những kẻ chối Chúa dập tắt: “Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao ? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy : không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả.

Phần chúng ta, ta thuộc nhóm người nào, và nếu được hỏi Chúa Giêsu là ai, ta sẽ trả lời sao? đối với tôi, Giêsu sẽ là Đấng để tôi chạy tới xin ơn? Là Đấng nhân từ luôn thông cảm tha thứ? Là người rắc rối hay đặt vấn đề cho lương tâm tôi? Hay là Đấng mà tôi phải trung thành đi theo suốt đời tôi?

Thứ Năm Tuần IV – Mùa Chay

Thứ Năm Tuần V – Mùa Chay

Tin vào Chúa ngang qua các Ngôn sứ

“Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật”.

Xh 32,7-14 ; Ga 5,31-47

Lm.John Trần

Chúng ta vẫn thường nghe câu truyện vui kể rằng:

Tại một làng thuộc vùng Lorraine, miền Đông Bắc nước Pháp, một nông dân nọ tiến lại trước mặt ông thầy giáo làng lúc ấy đang dạo mát và nói:

– Thật là hay điều mà Thầy đã dạy cho bọn trẻ hôm qua: Nếu ai đánh vào má phải, thì hãy chìa luôn cả má trái cho nó.

– Đó đâu phải là do tôi – Thầy giáo đáp – đó là điều Chúa đã ghi trong Phúc Âm chứ!

Thầy giáo vừa dứt lời thì bị người nông dân kia tát cho hai cái, vì anh này từ lâu đã có nhiều tức khí với thầy giáo làng.

Sau lúc chóang váng, thầy giáo cũng bình tĩnh  giáng trả hai cái tát nẩy lửa vào mặt người nông dân, kèm theo lời trích dẫn Kinh Thánh:

“Cũng có lời chép: Ngươi lấy đấu nào đong cho anh em thì cũng sẽ được đong lại bằng đấu ấy. Một đấu được lắc, được dằn sẽ đổ xuống trên lưng ngươi”.

……………………..

Người ta vẫn thường chú giải Kinh Thánh như vậy, họ đọc Kinh Thánh, tin Kinh Thánh, tôn thờ Lời Chúa, suy xét Lời Chúa thật tỉ mỉ nhưng lại hiểu sai ý Chúa muốn, làm sai con đường lối Chúa.

Cũng giống những người Do Thái, cũng tỉ mỉ giữ gìn Lời Chúa trong Cựu Ước, tin vào Lề Luật, tin vào các Ngôn sứ như Môsê, Gioan Tẩy Giả, và họ luôn sẵn một hình ảnh về Đấng Messia, hợp với sở thích của họ. Tuy nhiên, cái hình ảnh ấy che mất hình ảnh đích thực của Đấng Messia.

Chính vì thế, khi Chúa Giêsu tranh luận với những người biệt phái sau khi việc Ngài chữa một người bất toại vào ngày sabát. Ngài đã nói với họ rằng sở dĩ Ngài làm việc trong ngày sabát vì Ngài noi gương Thiên Chúa là Cha của Ngài. Họ không tin rằng Ngài là Đấng Cứu Thế, cho dù đã có Gioan Tiền Hô, có Thiên Chúa Cha, có sách Thánh và nhất là có những công việc Thiên Chúa Cha giao cho Ngài mà Ngài đã hoàn thành, làm chứng .

Nhưng không phải chỉ có những người Do Thái thời Chúa Giêsu đã cố chấp như thế đâu, mà cho đến nay, trong nhân loại chúng ta cũng không thiếu gì những người vẫn cố chấp như thế.

Như vậy, những ai đã đặt niềm tin vào Chúa Giêsu Cứu Thế, phải thể hiện niềm tin đó ra trong cuộc sống bằng cách trao phó cuộc sống cho Ngài. Làm theo điều Ngài dạy bảo, giữ các giới răn của Ngài cách chu đáo….

Nguyện xin Chúa tăng thêm đức tin cho chúng con, để chúng con luôn vững tin Chúa là Đấng Cứu Độ chúng con. Amen

Thứ Tư Tuần IV – Mùa Chay

Thứ Tư Tuần V – Mùa Chay

TIN ĐỂ ĐƯỢC SỐNG MUÔN ĐỜI

“ Ai nghe Ta và tin vào Đấng đã sai Ta sẽ có sự sống đời đời”

Is 49,8-15 ; Ga 5,17-30

Lm.John Trần

Trong hành trình Mùa Chay, sứ điệp Lời Chúa hôm nay mở ra cho chúng ta một viễn tượng huy hoàng về niềm hy vọng: Thiên Chúa không bao giờ quên lãng con người. Qua ngôn sứ I-sai-a, Chúa khẳng định một tình yêu còn mãnh liệt hơn cả tình mẫu tử: “Cho dù người mẹ có quên con mình, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15).

Chính trên nền tảng của tình yêu tín trung ấy, Chúa Giê-su trong bài Tin Mừng theo thánh Gio-an đã đưa ra một lời hứa chắc nịch: “Ai nghe lời Ta và tin vào Đấng đã sai Ta, thì có sự sống đời đời” (Ga 5,24).

Tuy nhiên, chúng ta cần dừng lại để tự vấn: “Sự sống đời đời” mà Chúa hứa ban thực sự là gì?

Nhiều khi chúng ta lầm tưởng đó chỉ là một phần thưởng ở tương lai xa xôi sau khi nhắm mắt lìa đời, hoặc là một sự tồn tại kéo dài vô tận về mặt thời gian. Nếu chỉ hiểu về “số lượng” năm tháng, thì sự sống ấy có thể trở nên nhàm chán. Thực tế, sự sống đời đời mà Chúa Giê-su nói tới thiên về “phẩm chất”. Đó là sự thông phần vào chính sự sống của Thiên Chúa – Đấng là tình yêu và là nguồn hạnh phúc tự tại. Nói cách khác, sống đời đời là sống trong mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa ngay từ bây giờ.

Thế gian thường hứa hẹn cho chúng ta một “tương lai” xây dựng trên tiền bạc, danh vọng hay quyền lực. Nhưng đó thường là những ảo tưởng chóng qua. Một tương lai thực sự vững bền phải được xây dựng trên một hiện tại tốt đẹp. Và hiện tại tốt đẹp nhất của một Kitô hữu chính là thái độ lắng nghe Lời Chúa và đặt trọn niềm tin nơi Ngài. Khi chúng ta tin, chúng ta không còn sợ hãi trước những biến động của cuộc đời, vì biết rằng tên mình đã được ghi vào lòng bàn tay Chúa.

Sứ điệp hôm nay cũng là một lời cảnh tỉnh: Đừng chần chừ trong tội lỗi, cũng đừng thất vọng trước những yếu đuối của bản thân. Nếu người mẹ trần gian còn không nỡ bỏ con mình, phương chi Thiên Chúa là nguồn mạch lòng thương xót? Ngài đang đợi chúng ta “nghe” tiếng Ngài gọi để quay về, để cảm nếm sự bình an mà thế gian không thể ban tặng.

Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu rằng tin vào Chúa không phải là một gánh nặng, nhưng là chìa khóa mở cửa vào hạnh phúc vĩnh cửu. Xin cho chúng con biết trân trọng từng giây phút hiện tại để sống đẹp lòng Chúa, hầu mai sau được cùng Ngài hưởng trọn vẹn niềm vui trong nước trời. Amen.

Thứ Hai Tuần IV – Mua Chay

Thứ Hai Tuần V - Mùa Chay

TIN VÀO LỜI CHÚA HỨA

“Ông hãy về đi, con ông sống.” (Ga 4, 50)

Is 65, 17-21; Ga 4, 43-54

Lm. John Trần

Trang Tin Mừng hôm nay mở ra một khung cảnh đầy kịch tính tại Cana. Một viên sĩ quan của nhà vua—người có địa vị, quyền lực và sự giàu sang—đang đứng trước một vực thẳm mà tiền bạc không thể khỏa lấp: đứa con trai duy nhất của ông đang hấp hối tại Capharnaum.

Nỗi đau của người cha đã chiến thắng sự tự tôn của một quan chức. Ông lặn lội đường xa, vượt qua đèo dốc để tìm gặp Chúa Giêsu. Lời van nài của ông: “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo con tôi chết mất” không chỉ là một lời cầu xin, mà là tiếng kêu cứu từ tận cùng sự bất lực của con người trước cái chết.

Điều bất ngờ nhất trong câu chuyện không nằm ở phép lạ, mà nằm ở thái độ của cả hai bên:

Về phía Chúa Giêsu: Ngài không thực hiện một nghi thức rầm rộ, cũng không trực tiếp đặt tay hay đi cùng viên sĩ quan như ông mong đợi. Ngài chỉ trao cho ông một “lời hứa” khô khan nhưng đầy uy quyền: “Ông hãy về đi, con ông sống.”

Về phía viên sĩ quan: Ông đã thể hiện một đức tin phi thường. Ông không nài ép, không đòi hỏi Chúa phải đi cùng cho bằng được để “kiểm chứng”. Tin Mừng ghi lại một chi tiết đắt giá: “Ông tin vào lời Đức Giêsu nói với mình và ra về.” Giây phút ông quay lưng bước đi khi chưa thấy kết quả gì chính là giây phút đức tin đạt đến đỉnh cao. Khoảng cách  giữa Cana và Capharnaum lúc bấy giờ không còn là rào cản địa lý, mà là nhịp cầu nối kết giữa Lời hứa của Thiên Chúa và lòng tin của con người.

Sự thực nghiệm đã minh chứng cho niềm tin ấy. Trên đường về, các đầy tớ chạy ra báo tin mừng: “Con ông sống rồi!”. Và khi hỏi kỹ giờ giấc, ông bàng hoàng nhận ra đó chính là khoảnh khắc Chúa Giêsu phán: “Con ông sống”.

Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đây là sự hiển trị của Lời Thiên Chúa trên không gian và thời gian. Qua đó, tiên tri I-sai-a trong bài đọc I (Is 65, 17-21) đã vang vọng lại niềm hy vọng về một “Trời mới Đất mới”, nơi tiếng khóc than biến mất và sự sống trỗi dậy. Phép lạ chữa lành đứa bé là tiền trưng cho một sự đổi mới toàn diện mà Thiên Chúa hứa ban cho những ai dám đặt trọn niềm tin nơi Ngài.

Nhìn vào viên sĩ quan, chúng ta giật mình nhìn lại chính mình. Chúng ta đã nhận được vô vàn lời hứa quý giá hơn cả sức khỏe thể lý:

“Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

“Ai ăn Thịt và uống Máu Ta, sẽ được sống muôn đời.”

“Đừng sợ, có Thầy đây!”

Thế nhưng, giữa những phong ba của cuộc đời, giữa những lo toan về cơm áo gạo tiền hay dịch bệnh, chúng ta thường để nỗi sợ lấn át. Chúng ta tin vào những gì mắt thấy, tai nghe, tay chạm, nhưng lại hoài nghi Lời Hằng Sống. Chúng ta muốn Chúa phải hành động theo cách chúng ta lập trình, thay vì phó thác vào thánh ý Ngài.

Mùa Chay là cơ hội để chúng ta thanh tẩy đức tin “thị giác” để tiến tới đức tin “lắng nghe”. Viên sĩ quan đã ra về khi đứa trẻ vẫn còn đang sốt mê man ở nhà, nhưng trong tâm hồn ông, đứa bé đã được chữa lành ngay khi ông đón nhận Lời Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, Cảm tạ Chúa đã luôn đồng hành và ban tặng cho chúng con những lời hứa cứu độ thiết yếu nhất. Xin tha thứ cho những lúc chúng con yếu lòng tin, chỉ mải mê đi tìm những dấu lạ điềm thiêng mà quên mất rằng Lời Chúa chính là sức mạnh biến đổi thực tại. Xin tăng thêm niềm tin và lòng cậy trông, để giữa muôn vàn biến cố, chúng con vẫn bình an vững bước vì biết rằng: Chỉ cần một lời Chúa phán, linh hồn chúng con sẽ được chữa lành. Amen.

Thứ Bảy Tuần III – Mùa Chay

Thứ Bảy Tuần V – Mùa Chay

CẦU NGUYỆN TRONG KHIÊM NHƯỜNG

“Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu”

Hs 6,1-6 ; Lc 18,9-14

Lm. John Trần

Trong đời sống xã hội, chúng ta thường thấy những cách phô trương sự giàu sang hay lòng nhân đức nhằm tìm kiếm sự ngưỡng mộ của người đời. Có những người làm từ thiện nhưng mục đích chính lại là để quảng bá danh tiếng cá nhân. Thế nhưng, trong thế giới của ân sủng, giá trị của một hành động không nằm ở quy mô bên ngoài, mà ở nhịp đập của trái tim bên trong.

Lời Chúa hôm nay qua ngôn sứ Hôsê đã vang lên một lời xác quyết: “Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu” (Hs 6,6). Thiên Chúa không “cần” những vật chất chúng ta dâng tiến, bởi Ngài là chủ tể muôn loài. Điều Ngài khao khát chính là sự nhận biết và lòng mến chân thành của chúng ta.

Dụ ngôn về người Pharisêu và người thu thuế trong Tin Mừng Luca (Lc 18,9-14) là một bức tranh đối lập sâu sắc về thái độ này. Người Pharisêu đứng thẳng, liệt kê hàng loạt công trạng: ăn chay mỗi tuần hai lần, dâng một phần mười thu nhập… Ông coi những việc đạo đức ấy như một bản hợp đồng khiến Thiên Chúa phải “mắc nợ” mình. Sự tự mãn đã biến lời cầu nguyện của ông thành lời ca tụng chính mình, và vô tình đóng chặt cửa lòng trước ơn cứu độ. Ngược lại, người thu thuế “đứng xa xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, vừa đấm ngực vừa thưa rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi‘” (Lc 18,13).

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong bài giảng ngày 1 tháng 6 năm 2016, đã nhấn mạnh: “Người Pha-ri-si cầu nguyện với Chúa, nhưng thực chất ông ta chỉ đang tự tán dương mình. Ông ta đang cầu nguyện với chính mình! Thay vì có Chúa ở trước mắt, ông ta lại có một tấm gương … Người Pha-ri-si bước về phía Đền thờ, tự tin vào bản thân, nhưng ông không nhận ra rằng trái tim mình đã lạc lối…. Nếu lời cầu nguyện của người kiêu ngạo không đến được trái tim Chúa, thì sự khiêm nhường của người nghèo sẽ mở rộng trái tim Ngài. Chúa có một điểm yếu dành cho những người khiêm nhường. Trước một trái tim khiêm nhường, Chúa mở rộng trái tim Ngài hoàn toàn. .. ” (ĐTC.Phanxicô, 1/6/2016).

Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo cũng dạy rằng: “Khiêm nhường là nền tảng của cầu nguyện. “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho đúng” (Rô-ma 8:26). Khiêm nhường là thái độ chấp nhận lời cầu nguyện, nhưng không chấp nhận ân điển của lời cầu nguyện: trước mặt Đức Chúa Trời, con người chỉ là kẻ ăn xin” (GLHTCG, số 2559).

Một việc thiện hay một giờ kinh lễ chỉ thực sự có giá trị cứu độ khi nó được thực hiện với động lực là tình yêu và sự lệ thuộc hoàn toàn vào Chúa. Nếu chúng ta đi lễ, dâng cúng hay làm tông đồ chỉ để tìm sự an tâm giả tạo hoặc sự kính trọng của người khác, chúng ta đang lầm lạc như người Pharisêu kia.

Mùa Chay mời gọi chúng ta “trở về” với chân lý về chính mình: Chúng ta là những tội nhân được yêu thương. Sự công chính không đến từ nỗ lực cá nhân để “mua” ơn Chúa, nhưng là hồng ân Thiên Chúa ban cho những tâm hồn biết tan nát khiêm cung. Như lời ngôn sứ Hôsê mời gọi: “Hãy cùng nhau trở về với Đức Chúa” (Hs 6,1), để Ngài chữa lành và ban sự sống.

Ước gì mỗi khi đến với Chúa, chúng ta biết cởi bỏ tấm áo giáp của sự kiêu ngạo, để chỉ còn lại một tâm hồn đơn sơ, phó thác. Chỉ khi ấy, chúng ta mới có thể ra về và được Thiên Chúa coi là người công chính.