Chúa Nhật thứ V Mùa Chay – Năm A

Chúa Nhật thứ V Mùa Chay – Năm A

HÃY RA KHỎI MỒ

“Anh Lagiarô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43).

Ed 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 11,1-45 (Ga 11,3-7.17.20-27.33b-45)

Linh mục John Trần

Sống trên đời, ai cũng phải đối diện với cái chết. Đó là một thực tế phũ phàng gây nên tang tóc, chia lìa và nỗi thất vọng khôn cùng. Thế nhưng, sứ điệp Tin Mừng hôm nay không dừng lại ở tiếng khóc của Martha hay Maria, cũng không dừng lại ở ngôi mộ đá lạnh lẽo của Lagiarô. Nó mở ra một chân trời mới: Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của sự sống.

1.   Lời hứa đầy hy vọng của Thiên Chúa

Mở đầu Sứ điệp Mùa Chay năm 2024, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói rằng: “Khi Thiên Chúa chúng ta mặc khải chính Ngài, sứ điệp của Ngài luôn luôn là một sứ điệp về sự tự do: “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai cập, ra khỏi nhà nô lệ” (Xh 20,2). Đó là những lời đầu tiên của Thập Giới được ban cho Môsê trên Núi Sinai” (x.ĐTC.Phanxicô, 2024).

Ngay từ bài đọc I, Tiên tri Êdêkiên đã loan báo một thị kiến đầy hy vọng: “Ta sẽ mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt… và các ngươi sẽ biết Ta là Đức Chúa.” (Ed 37,12-13). Đây không chỉ là lời hứa phục hồi quốc gia It-ra-en về mặt chính trị, mà là một mặc khải thần học sâu sắc: Thiên Chúa có quyền năng trên cái chết. Ngài không để con người mục nát trong bụi đất. Ngài hứa ban Thần Khí để chúng ta được sống (x.Ed 37,14).

Sự sống mà Thiên Chúa hứa ban không chỉ là sự tồn tại sinh học. Đó là sự thông phần vào chính sự sống của Ngài. Thiên Chúa không dựng nên chúng ta cho nấm mộ, Ngài dựng nên chúng ta cho sự sống, một sự sống đẹp đẽ, tốt lành và vĩnh cửu. “Thánh Phao-lô quả quyết : “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội”. Thiên Chúa ban ân sủng để vạch trần tội lỗi nhằm hoán cải lòng ta và “làm cho ta nên công chính, để được sống đời đời nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta” (Rm 5,20-21)” (GLHTCG, số 1848).

2.   Lagiarô – hình ảnh của mỗi chúng ta

Tin Mừng Gioan thuật lại việc Chúa Giêsu cho Lagiarô sống lại sau bốn ngày trong mộ (x.Ga 11,39). Con số bốn ngày rất quan trọng; theo quan niệm Do Thái thời bấy giờ, sau ba ngày, linh hồn đã hoàn toàn lìa khỏi xác và thân xác bắt đầu tan rữa. Khi Chúa Giêsu đến, hy vọng của con người đã tắt ngấm. Martha nói: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây, em con đã không chết.” (Ga 11,21).

Nhưng chính trong sự bất lực, tuyệt vọng của con người, quyền năng Thiên Chúa lại tỏ hiện rạng ngời nhất. Chúa Giêsu tuyên bố một chân lý đảo lộn mọi định luật tự nhiên: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25). Trong Bài giảng ngày 6 tháng 4 năm 2014, tại Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh rằng:  “Với lời này của Chúa, chúng ta tin rằng đời sống của bất cứ ai tin vào Chúa Giê-su và tuân giữ giới răn của Ngài sau khi chết sẽ được biến đổi thành đời sống mới, trọn vẹn và bất tử” (ĐTC.Phanxicô, 2014).

Thưa anh chị em, Lagiarô không chỉ là một nhân vật lịch sử. Anh là hình ảnh của mỗi chúng ta. Có những lúc, chúng ta đang sống mà như đã chết. Chúng ta bị chôn vùi trong những nấm mộ của tội lỗi, kiêu ngạo, của sự ích kỷ, của nỗi tuyệt vọng, hay của những đam mê bất chính. Có những nấm mộ mang tên “hận thù” khiến tâm hồn ta lạnh lẽo. Có những nấm mộ mang tên “vô cảm” khiến ta chẳng còn nghe thấy tiếng khóc của anh em. Chúng ta tự xây quanh mình những tảng đá ngăn cách ta với ân sủng Chúa.

3.    Cởi bỏ con người cũ và sống theo Thần Khí

Sau khi gọi Lagiarô ra, Chúa Giêsu nói với những người xung quanh: “Cởi giẻ cho anh ấy đi, và để anh ấy đi.” (Ga 11,44). Đây là một chi tiết khá độc đáo. Chúa làm phép lạ cho sống lại, nhưng Ngài muốn con người cộng tác để đem lại tự do hoàn toàn cho người anh em. Điều này gợi lên cho ta suy nghĩ: Chúng ta có đang trói buộc ai đó bằng những định kiến, bằng sự xét đoán khắt khe không? Chúng ta có đang đẩy anh chị em mình vào nấm mộ của sự cô đơn bằng sự thờ ơ của mình không?

Trong Sứ điệp Mùa Chay năm 2024, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắn nhủ rằng: “Mùa Chay là mùa của hoán cải và tự do. Thiên Chúa không muốn những nô lệ hay thần dân như Pharaon, nhưng muốn chúng ta là những người con, con trai, con gái của Ngài” (x.ĐTC.Phanxicô, 2024). Chúng ta được gọi để giúp nhau tháo cởi những “giẻ bao” của mặc cảm, của nghèo đói, của thất học, để mọi người được sống xứng đáng với phẩm giá con người, làm con cái của Chúa.

Thánh Phaolô trong bài đọc II nhắc nhở chúng ta: “Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa. Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối.” (Rm 8,8-9).

Cái chết thực sự không phải là khi hơi thở ngừng lại, mà là khi ta tách lìa khỏi nguồn sống là Thiên Chúa. Tội lỗi chính là tác nhân gây nên cái chết tâm linh này. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy: “Tội lỗi là một hành vi trái ngược với lý trí… Nó xúc phạm đến Thiên Chúa và làm tổn thương bản chất con người… Như thế, tội là “yêu mình đến mức khinh thị Thiên Chúa”( T.Augustinô14,28). Vì kiêu căng tự cao tự đại, tội hoàn toàn trái ngược với thái độ vâng phục của Đức Giê-su, Đấng thực hiện ơn cứu độ (x. Pl 2,6-9).” (x.GLHTCG, số 1849-1850). Khi phạm tội trọng, chúng ta tự giam mình vào nấm mộ, nơi không có ánh sáng, không có hy vọng.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không đến để kết án kẻ nằm trong mộ. Ngài đến để khóc thương họ (Ga 11,35) và để gọi họ ra: “Anh Lagiarô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43). Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích lời kêu gọi này của Chúa rằng: “Chúa Kitô không cam chịu với những ngôi mộ mà chúng ta tự xây cho mình bằng sự lựa chọn điều ác và sự chết, bằng những sai lầm, bằng tội lỗi của chúng ta. Ngài không cam chịu điều đó! Ngài mời gọi chúng ta, gần như ra lệnh cho chúng ta, hãy ra khỏi ngôi mộ mà tội lỗi đã chôn vùi chúng ta. Ngài tha thiết kêu gọi chúng ta hãy ra khỏi bóng tối của nhà tù mà chúng ta đang bị giam cầm, bằng lòng với một cuộc sống giả dối, ích kỷ và tầm thường. “Hãy ra!”, Ngài nói với chúng ta, “Hãy ra!”” (ĐTC.Phanxicô, 2014).

“Anh Lagiarô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43).  Tiếng gọi ấy vẫn đang vang lên trong tâm hồn mỗi người chúng ta hôm nay, đặc biệt là qua bí tích Giải tội. Một người bước vào tòa giải tội với tâm hồn tan nát vì tội lỗi, nhưng khi bước ra, họ được phục sinh trong ân sủng. Đó chính là phép lạ Lagiarô đang diễn ra giữa thời đại này.

Phép lạ cho Lagiarô sống lại là tiền đề cho cuộc Phục sinh của chính Chúa Giêsu. Khác với Lagiarô sống lại rồi sẽ lại chết, Chúa Giêsu phục sinh để sống đời đời, và Ngài kéo chúng ta theo Ngài.

Phép lạ cho Lagiarô sống lại để chúng ta càng tin hơn vào quyền năng và lòng thương xót của Chúa, đặt biệt trên con người phải chết vì tội lỗi của chúng ta, để chúng ta xác tín như lời của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Lòng thương xót của Chúa dành cho mọi người là vô hạn!”. Chúa luôn sẵn sàng cất bỏ bia mộ tội lỗi của chúng ta, điều ngăn cách chúng ta với Ngài, ánh sáng của sự sống.” (ĐTC.Phanxicô, 2014).

Tuy vậy, niềm tin vào sự sống lại không phải là một liều thuốc an thần để quên đi nỗi đau trần thế, nhưng là một động lực để sống dấn thân. Nếu chúng ta tin rằng thân xác này sẽ sống lại, chúng ta phải tôn trọng thân xác mình và của tha nhân. Nếu chúng ta tin rằng sự sống là vĩnh cửu, chúng ta không được phép lãng phí thời gian vào những điều phù phiếm, tội lỗi.

Mùa Chay này, mỗi người hãy tự hỏi lòng mình:

  • Tôi có đang bị giam cầm trong ngôi mộ nào không? (Kiêu ngạo, dâm ô, gian tham…?)
  • Tôi có dám nghe tiếng Chúa gọi để bước ra khỏi vùng an toàn của tội lỗi không?
  • Tôi có sẵn lòng giúp anh chị em mình tháo cởi những xiềng xích đang trói buộc họ không?

Nguyện xin Chúa Thánh Thần, Đấng đã làm cho Đức Kitô từ cõi chết sống lại, cũng biến đổi tâm hồn chúng ta. Xin cho chúng ta biết bám chặt vào lời tuyên xưng của Martha: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.” (Ga 11,27). Khi có Chúa, nấm mộ không còn là điểm kết thúc, mà là cửa ngõ dẫn vào vinh quang.

Chúc anh chị em tìm thấy niềm vui phục sinh ngay trong nỗ lực hoán cải của những ngày cuối Mùa Chay này.

Amen.


Tài liệu tham khảo

·  ĐTC.Phanxicô. (2014, 06 tháng 4). Bài huấn dụ trong buổi đọc kinh Truyền Tin tại Quảng trường Thánh Phêrô (Chúa Nhật V Mùa Chay A). Truy cập tại: https://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2014/documents/papa-francesco_angelus_20140406.html

·  ĐTC.Phanxicô. (2024). Sứ điệp Mùa Chay 2024: Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta băng qua sa mạc đến tự do. Truy cập tại: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-mua-chay-2024-cua-duc-thanh-cha-phanxico-5464

Thứ Bảy Tuần IV – Mùa Chay

Thứ Bảy Tuần V – Mùa Chay

CHÚA GIÊSU LÀ AI

“Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi”

Gr 11,18-20 ; Ga 7,40-53

Lm.John Trần

Chúa Giêsu là ai? Đó là câu hỏi đặt cho tất cả mọi người. Từ thời Chúa Giêsu, người ta nói, người ta bàn tán rất nhiều về Ngài với những ý kiến trái chiều, có những người bênh vực Chúa, nhưng cũng không thiếu những người ngăn cản người ta tuyên xưng Chúa, điều này thất rõ trong Tin mừng hôm nay ta tạm liệt kê bốn nhóm người khác nhau:

Nhóm thứ nhất đối lại với Chúa Giêsu, luôn chống lại và tìm cách giết Chúa, họ là những nhà lãnh đạo dân chúng, có ảnh hưởng nhiều trên dân của họ, họ coi Chúa là cái gai cần nhổ đi.

Nhóm thứ hai là dân chúng, khi bàn về Đức Giêsu, nhiều người nói thế này, Những kẻ khác lại nói thế kia, họ bàn rằng “Ông này thật là vị ngôn sứ.” Kẻ khác rằng: “Ông này là Đấng Ki-tô.” Nhưng có kẻ lại nói: “Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao? Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đavít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao?” Vậy, vì Ngài mà những người này đã tự chia rẽ, mất sự hiệp nhất.

Nhóm thứ ba là những người lính, chính các vệ binh có nhiệm vụ giữ an ninh trật tự công cộng này, tuy ít học, nhưng đã có những suy nghĩ rất chính xác và rất rõ nét như một lời ca ngợi: “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy”, nhưng vì câu nói tốt cho Chúa này đã làm ảnh hưởng đến các kẻ chống đối Chúa, thế nên họ bị trách tàn tệ:  “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? Trong hàng thủ lãnh và giới tri thức biệt phái có ai tin vào tên ấy đâu ? Chỉ có bọn hạ lưu cặn bã như các anh mới phạm sai lầm xét đoán như thế thôi“.

Nhóm thứ tư, đại diện là một người trong nhóm PhariSiêu, tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su ; ông nói với họ về lề luật, lề luật phải thực thi chính xác với Chúa là Đấng vô tội,  và cái phản ứng nhút nhát, rụt rè của Nicôđêmô cũng bị những kẻ chối Chúa dập tắt: “Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao ? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy : không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả.

Phần chúng ta, ta thuộc nhóm người nào, và nếu được hỏi Chúa Giêsu là ai, ta sẽ trả lời sao? đối với tôi, Giêsu sẽ là Đấng để tôi chạy tới xin ơn? Là Đấng nhân từ luôn thông cảm tha thứ? Là người rắc rối hay đặt vấn đề cho lương tâm tôi? Hay là Đấng mà tôi phải trung thành đi theo suốt đời tôi?

Thứ Sáu Tuần IV – Mùa Chay

Thứ Sáu Tuần V – Mùa Chay

NHÌN NHẬN CHÚA LÀ THƯỢNG ĐẾ

“Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi”

Kn 2,1a.12-22 ; Ga 7, 1-2.10.25-30

Lm.John Trần

Trong Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan đã ghi nhận lại cuộc xung đột đang lớn dần và sẽ dẫn Đức Giêsu tới cái chết, đặc biệt, chúng ta thấy Đám đông dân chúng lên Đền thờ đã kinh ngạc thế nào khi họ thấy Chúa Giêsu đang giảng dạy tại khuôn viên đền thờ.

Họ kinh ngạc vì họ vốn biết rõ nhà cầm quyền thù ghét Chúa Giêsu vậy mà Ngài dám can đảm giảng dạy như là điều thách thức nhà cầm quyền. Họ còn ngạc nhiên hơn nữa khi thấy Ngài dạy dỗ mà không bị ai ngăn trở hay làm khó dễ gì.

Sự phản đối của dân chúng được Chúa Giêsu trả lời trong hai câu, cả hai đều khiến dân chúng và nhà cầm quyền sửng sốt.

Thứ nhất: Ngài bảo quả thật họ biết Ngài là ai và từ đâu đến, nhưng còn điều đúng hơn nữa là Ngài đến từ Thiên Chúa.

Thứ hai, Ngài bảo rằng họ không biết Thiên Chúa, còn Ngài thì biết. Quả thực, khi nói với dân của Chúa không biết Thiên Chúa là điều sỉ nhục cay đắng cho họ. Và khi cho rằng chỉ một mình Ngài biết Thiên Chúa, có liên hệ mật thiết với Thiên Chúa, chỉ một mình Ngài biết Thiên Chúa theo một cách mà chẳng có ai khác biết được quả là một điều khó có thể tin nổi.

Tất cả những điều Chúa Giêsu nói đó, nhắc nhở cho họ đó, nếu được lắng nghe bởi những ngừơi nhiệt thành muốn nhìn lại mình, muốn sửa mình thì quả thực là phúc đức cho họ, là cơ hội tốt cho họ học biết thêm về Ngài, tuy nhiên, Dân chúng và những người lãnh đạo tôn giáo cố chấp đã hiện rõ bản chất của mình đó là: không muốn nhìn nhận cách chính xác về thân phận thực của Chúa Giêsu, không muốn nhìn lại sự yếu kém của mình, không muốn ai nói động đến con đường tội lỗi mình đang dấn bước vào…  

Sự thật phũ phàng này cũng được bài trích sách Khôn Ngoan đã nói rõ rằng: kẻ gian ác không thích người công chính, và luôn muốn tìm cách bách hại người công chính như thế.

Phải chăng chúng ta cũng bị cám dỗ bởi ý muốn dẹp bỏ những người làm ta khó chịu, vì họ không giống ta, vì họ dám nói ra những chỗ yếu kém của mình, hay chỉ vì họ khá hơn tôi khiến sự hiện diện của họ làm mình bị lu mờ đi…?

Nguyện xin Chúa thương tha thứ những cố chấp của chúng con, vì nhiều lần con đã không muốn Chúa can thiệp vào cuộc đời con, Amen.

Thứ Năm Tuần IV – Mùa Chay

Thứ Năm Tuần V – Mùa Chay

Tin vào Chúa ngang qua các Ngôn sứ

“Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật”.

Xh 32,7-14 ; Ga 5,31-47

Lm.John Trần

Chúng ta vẫn thường nghe câu truyện vui kể rằng:

Tại một làng thuộc vùng Lorraine, miền Đông Bắc nước Pháp, một nông dân nọ tiến lại trước mặt ông thầy giáo làng lúc ấy đang dạo mát và nói:

– Thật là hay điều mà Thầy đã dạy cho bọn trẻ hôm qua: Nếu ai đánh vào má phải, thì hãy chìa luôn cả má trái cho nó.

– Đó đâu phải là do tôi – Thầy giáo đáp – đó là điều Chúa đã ghi trong Phúc Âm chứ!

Thầy giáo vừa dứt lời thì bị người nông dân kia tát cho hai cái, vì anh này từ lâu đã có nhiều tức khí với thầy giáo làng.

Sau lúc chóang váng, thầy giáo cũng bình tĩnh  giáng trả hai cái tát nẩy lửa vào mặt người nông dân, kèm theo lời trích dẫn Kinh Thánh:

“Cũng có lời chép: Ngươi lấy đấu nào đong cho anh em thì cũng sẽ được đong lại bằng đấu ấy. Một đấu được lắc, được dằn sẽ đổ xuống trên lưng ngươi”.

……………………..

Người ta vẫn thường chú giải Kinh Thánh như vậy, họ đọc Kinh Thánh, tin Kinh Thánh, tôn thờ Lời Chúa, suy xét Lời Chúa thật tỉ mỉ nhưng lại hiểu sai ý Chúa muốn, làm sai con đường lối Chúa.

Cũng giống những người Do Thái, cũng tỉ mỉ giữ gìn Lời Chúa trong Cựu Ước, tin vào Lề Luật, tin vào các Ngôn sứ như Môsê, Gioan Tẩy Giả, và họ luôn sẵn một hình ảnh về Đấng Messia, hợp với sở thích của họ. Tuy nhiên, cái hình ảnh ấy che mất hình ảnh đích thực của Đấng Messia.

Chính vì thế, khi Chúa Giêsu tranh luận với những người biệt phái sau khi việc Ngài chữa một người bất toại vào ngày sabát. Ngài đã nói với họ rằng sở dĩ Ngài làm việc trong ngày sabát vì Ngài noi gương Thiên Chúa là Cha của Ngài. Họ không tin rằng Ngài là Đấng Cứu Thế, cho dù đã có Gioan Tiền Hô, có Thiên Chúa Cha, có sách Thánh và nhất là có những công việc Thiên Chúa Cha giao cho Ngài mà Ngài đã hoàn thành, làm chứng .

Nhưng không phải chỉ có những người Do Thái thời Chúa Giêsu đã cố chấp như thế đâu, mà cho đến nay, trong nhân loại chúng ta cũng không thiếu gì những người vẫn cố chấp như thế.

Như vậy, những ai đã đặt niềm tin vào Chúa Giêsu Cứu Thế, phải thể hiện niềm tin đó ra trong cuộc sống bằng cách trao phó cuộc sống cho Ngài. Làm theo điều Ngài dạy bảo, giữ các giới răn của Ngài cách chu đáo….

Nguyện xin Chúa tăng thêm đức tin cho chúng con, để chúng con luôn vững tin Chúa là Đấng Cứu Độ chúng con. Amen

Thánh Giuse Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria (19/3)

Thánh Giuse Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria (19/3)

Thánh Giuse – Người canh giữ mầm sống và đức tin của Gia đình Chúa

“Ông Gia-cóp sinh ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô”( Mt 1,16)

2Sm 7,4-5a.12-14a.16; Rm 4,13.16-18.22; Mt 1,16.18-21.24a; (Lc 2,41-51a)

Lm.Gioan Trần

Hôm nay, toàn thể Giáo hội hân hoan mừng kính trọng thể lễ Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria. Trong bầu khí linh thiêng của ngày Lễ Trọng, và đặc biệt trong Thánh lễ cầu cho giáo dân (Lễ Họ) này, chúng ta cùng chiêm ngắm chân dung một người đàn ông thầm lặng nhưng vĩ đại, một người tôi tớ trung tín mà Thiên Chúa đã tin tưởng trao phó kho tàng quý giá nhất của Ngài: Chúa Giê-su Kitô và Đức Maria.

1. Thánh Giuse trong lịch sử cứu độ

Lịch sử cứu độ là một dòng chảy của những lời hứa. Trong bài đọc I, chúng ta nghe lời sấm của ngôn sứ Na-than nói với vua Đa-vít: “Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi -một người do chính ngươi sinh ra-, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền. Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi” (2Sm 7,12-13). Lời hứa ấy tưởng chừng như bị đứt đoạn qua những thăng trầm của lịch sử Do Thái, nhưng thực ra, nó đang âm thầm thực hiện ngang qua sự cộng tác của một bác thợ mộc tại làng Na-da-rét, đó là Thánh Giuse

Tin Mừng thánh Mát-thêu mở đầu bằng gia phả, khẳng định Giuse thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Tuy nhiên, kèm theo đó là trách nhiệm bảo vệ Đấng là “Vua các vua”. Thiên Chúa gọi Giuse không phải để cai trị, mà để làm cha – “người cha trong bóng tối”, để che chở cho mầm sống cứu độ đang thành hình, đúng như: “là người quản gia trung tín và khôn ngoan, Chúa đã đặt lên coi sóc gia đình Chúa”. Và “trong mối quan hệ với Chúa Giêsu, Giuse là cái bóng trần gian của Cha trên trời: ông trông nom và bảo vệ Ngài, không bao giờ bỏ mặc Ngài đi theo con đường riêng của mình” (Đức Thánh Cha Phanxicô, 2020, Patris Corde).

Thánh Phaolô VI cũng đã chỉ ra rằng Giuse đã thể hiện cụ thể vai trò làm cha của mình “bằng cách biến cuộc đời mình thành một sự phục vụ hy sinh cho mầu nhiệm nhập thể và mục đích cứu chuộc của nó. Ngài đã sử dụng quyền lực pháp lý của mình đối với Thánh Gia để cống hiến trọn vẹn cho họ trong cuộc sống và công việc của mình. Ngài đã biến ơn gọi con người của mình đối với tình yêu gia đình thành một sự hiến dâng siêu phàm của chính mình, trái tim và tất cả khả năng của mình, một tình yêu được đặt vào phục vụ Đấng Mê-si-a, người đang trưởng thành trong gia đình Ngài”(Thánh Phaolô VI , Bài giảng (19-03-1966): Insegnamenti di Paolo VI , IV (1966), 110).

2. Người Công chính sống niềm tin

Thánh Kinh gọi Giuse là “người công chính”. Sự công chính của ngài không chỉ dừng lại ở việc tuân giữ lề luật, mà cao siêu hơn, đó là sự công chính của đức tin – một đức tin giống như tổ phụ Á-bra-ham mà bài đọc II đã nhắc tới: “Mặc dầu không còn hy vọng, ông vẫn tin và hy vọng, vì thế ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc” (Rm 4,18).

Hãy đặt mình vào vị trí của thánh Giuse trong đêm được báo mộng ấy. Những ngày mà Ngài đứng trước một mầu nhiệm vượt quá trí hiểu: Bạn mình mang thai mà không do mình. Trong sự bàng hoàng, Giuse không chọn cách tố cáo hay sỉ nhục, ngài chọn cách “định tâm lìa bỏ cách kín đáo” (Mt 1,19). Đó là sự tế nhị của một tâm hồn đầy yêu thương, bác ái. Nhưng chính lúc đó, Thiên Chúa đã can thiệp qua giấc mơ.

Tiếng mời gọi “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về” (Mt 1,20) là một lời mời gọi bước vào bóng tối của đức tin. Giuse đã tin vào lời thiên sứ hơn là tin vào sự suy luận của giác quan mình. Sự công chính của Giuse là sự vâng phục tuyệt đối: Ngài không hỏi một lời, không đòi một dấu lạ, ngài chỉ “chỗi dậy và làm như sứ thần Chúa truyền” (Mt 1,24).

Trong Tông huấn Redemptoris Custos (Người Gìn Giữ Đấng Cứu Thế), Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định sự vâng phục của đức tin nơi Giuse cũng tương tự như sự vâng phục của Maria, Giuse đã đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa bằng một lời ‘xin vâng’ thầm lặng nhưng quyết liệt : “đức tin của Đức Mẹ Maria gặp gỡ đức tin của Thánh Giuse. Nếu bà Elizabeth đã nói về Mẹ của Đấng Cứu Thế rằng: “Phúc thay người đã tin”, thì theo một nghĩa nào đó, sự phúc lành này cũng có thể áp dụng cho Thánh Giuse, vì ngài đã đáp lại lời Chúa một cách tích cực khi lời ấy được truyền đạt cho ngài vào thời điểm quyết định. Mặc dù đúng là Thánh Giuse đã không đáp lại “lời loan báo” của thiên thần theo cách giống như Đức Mẹ Maria, nhưng ngài “đã làm theo lời thiên thần của Chúa truyền dạy và cưới vợ mình”. Điều ngài đã làm chính là sự “vâng phục đức tin” rõ ràng nhất (xem Rôma 1:5; 16:26; 2 Cô-rinh-tô 10:5-6)” (ĐTC.Gioan Phaolô II, 1989, RC số 4).

3. Sự hiện diện âm thầm – Bài học cho các gia đình Công giáo

Thánh Giuse không để lại một lời nói nào trong Kinh Thánh. Ngài là “vị thánh của sự thầm lặng”. Nhưng sự thầm lặng của ngài đầy ắp sự hiện diện và hành động. Ngài hiện diện khi hài nhi Giê-su sinh ra nơi máng cỏ nghèo hèn; ngài hiện diện khi phải đưa gia đình trốn sang Ai Cập trong đêm tối; ngài hiện diện trong những năm tháng lao động vất vả tại xưởng mộc để nuôi sống Thánh Gia…

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Tông thư Patris Corde (Với trái tim của người Cha), đã mô tả Thánh Giuse như một “người cha trong bóng tối”. Ngài viết:

“Thánh Giuse biết rằng mình không phải là chủ sở hữu của đứa trẻ, nhưng là người bảo hộ được ủy thác…

 Cha không phải sinh ra đã là cha, mà là do rèn luyện mà thành. Một người đàn ông không trở thành cha chỉ đơn giản bằng việc sinh con, mà bằng việc gánh vác trách nhiệm chăm sóc đứa con đó. Bất cứ khi nào một người đàn ông chấp nhận trách nhiệm về cuộc sống của người khác, bằng cách nào đó anh ta trở thành cha của người đó

Ngài viết tiếp rằng: “Giuse tìm thấy hạnh phúc không chỉ ở sự hy sinh bản thân mà còn ở sự hiến dâng chính mình. Ở ông, chúng ta không bao giờ thấy sự thất vọng mà chỉ thấy lòng tin. Sự im lặng kiên nhẫn của ông là khúc dạo đầu cho những biểu hiện cụ thể của lòng tin. Thế giới ngày nay cần những người cha. Nó không cần những bạo chúa muốn thống trị người khác để bù đắp cho nhu cầu của chính mình. Nó bác bỏ những kẻ nhầm lẫn quyền uy với chủ nghĩa độc đoán, phục vụ với sự nô lệ, thảo luận với sự áp bức, bác ái với tư duy phúc lợi, quyền lực với sự hủy diệt”. (Đức Thánh Cha Phanxicô, 2020, Patris Corde, số 7).

Đây là bài học vô giá cho các bậc làm cha mẹ trong giáo xứ chúng ta hôm nay. Giữa một thế giới ồn ào, nơi người ta thích phô trương cái tôi, Thánh Giuse dạy chúng ta giá trị của sự hy sinh thầm lặng. Làm cha, làm mẹ không phải là áp đặt ý muốn của mình lên con cái, mà là giúp chúng nhận ra và thực hiện ý muốn của Thiên Chúa trên cuộc đời chúng.

Cạnh đó, trong bài Tin Mừng Lc 2,41-51, chúng ta thấy hình ảnh Giuse và Maria hốt hoảng đi tìm con. Nỗi lo lắng của các ngài cho thấy tính nhân bản sâu sắc của tình phụ tử và mẫu tử. Khi tìm thấy Chúa Giê-su trong đền thờ, dù không hiểu hết lời Người nói, Giuse vẫn tiếp tục đồng hành, làm bóng mát cho Con Thiên Chúa lớn lên về cả “thể xác, trí tuệ và ân sủng”.

Mùa Chay là thời gian thuận tiện để mỗi người chúng ta cũng đi tìm Chúa như Thánh Giuse. Có lẽ nhiều lúc chúng ta đã để lạc mất Chúa trong bộn bề lo toan, trong những đam mê trần tục. Hãy chạy đến với Thánh Giuse, vì như lời khấn cầu: “Chưa bao giờ có ai chạy đến cùng Thánh Cả Giuse mà bị từ chối”.

Trong bài giảng ngày 19 tháng 3 năm 2013, tại Lễ Khai mạc Sứ vụ Mục tử của mình, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh: “Gìn giữ Chúa Giêsu và Đức Maria, gìn giữ toàn thể tạo hóa, gìn giữ mọi người, nhất là những người nghèo nhất… Đó chính là sứ vụ mà Thánh Giuse mời gọi chúng ta thực thi

Tôi muốn bổ sung thêm một điều nữa: sự quan tâm, bảo vệ đòi hỏi lòng tốt, cần có sự dịu dàng nhất định. Trong các sách Phúc Âm, Thánh Giuse hiện lên như một người đàn ông mạnh mẽ và can đảm, một người lao động, nhưng trong trái tim ngài, chúng ta thấy sự dịu dàng lớn lao, đó không phải là đức tính của kẻ yếu đuối mà là dấu hiệu của sức mạnh tinh thần và khả năng quan tâm, thương xót, cởi mở chân thành với người khác, và yêu thương. Chúng ta không nên sợ lòng tốt, sợ sự dịu dàng!” (Đức Thánh Cha Phanxicô, 19/3/2013).

Kính thưa cộng đoàn, hôm nay là lễ cầu cho giáo dân. Thánh Giuse là quan thầy của giáo xứ, Giáo Phận, Giáo hội toàn cầu, và ngài cũng là mẫu gương cho mỗi Gia trưởng, mỗi gia đình trong giáo xứ chúng ta.

  • Các người cha hãy học nơi Giuse sự dịu dàng chung thủy, bảo vệ vợ con trước những “cơn giông bão” của đời sống kinh tế và đạo đức.
  • Các bạn trẻ hãy học nơi Giuse sự kiên trì trong lao động và sự nhạy bén lắng nghe tiếng Chúa trong lương tâm.

Nguyện chúc cho mỗi người dân trong giáo xứ, nhờ lời bầu cử của Thánh Cả, luôn được bình an, mạnh khỏe và tràn đầy hy vọng trong tình yêu của Thiên Chúa.

Lạy Thánh Cả Giuse, xin gìn giữ mỗi gia đình trong giáo xứ chúng con. Xin cho các bậc làm cha mẹ biết yêu thương nhau bằng một tình yêu khiết tịnh và tận hiến. Xin cho chúng con biết lắng nghe tiếng Chúa giữa những ồn ào của cuộc sống, và luôn sẵn sàng thưa “xin vâng” trước mọi thánh ý Ngài. Amen.


Tài liệu tham khảo

  1. ĐTC. Gioan Phaolô II (1989). Tông huấn Redemptoris Custos (Người Gìn Giữ Đấng Cứu Thế). Truy cập tại: Vatican.va – Redemptoris Custos. (Trích dẫn số 4 về sự vâng phục của đức tin).
  2. ĐTC. Phanxicô (2020). Tông thư Patris Corde (Với trái tim của người Cha). Truy cập tại: Vatican.va – Patris Corde. (Trích dẫn số 7 về vai trò người cha trong bóng tối).
  3. ĐTC. Phanxicô (2013). Bài giảng Lễ Khai mạc Sứ vụ Phêrô (19/03/2013). Truy cập tại: Vatican.va – Homily 19 March 2013.