LỄ ĐỨC MẸ FATIMA – 13/5

LỄ ĐỨC MẸ FATIMA - 13/5

SỨ ĐIỆP FATIMA –LỜI MỜI GỌI YÊU MẾN TRÁI TIM MẸ

Phúc thay người mẹ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú!” (Lc 11,27)

Is 61,9-11 Lc 11,27-28

Lm.John Trần

1. Khởi đầu từ bóng tối đến Ánh sáng

Vào ngày 13 tháng 5 năm 1917, giữa lúc thế giới đang rên siết dưới gánh nặng của cuộc Thế Chiến thứ nhất – một cuộc “tàn sát vô ích” như lời Đức Giáo hoàng Bênêđictô XV đã gọi – thì tại một thung lũng nhỏ bé mang tên Cova da Iria ở Fatima, Bồ Đào Nha, Thiên Chúa đã mở một cửa sổ hy vọng cho nhân loại. Ba trẻ chăn cừu đơn sơ là Lucia, Francisco và Jacinta đã nhìn thấy một “Bà Đẹp” rực rỡ hơn mặt trời.

Sứ điệp Fatima không phải là một mạc khải mới thay thế Tin Mừng, nhưng là một lời nhắc nhở khẩn thiết về Tin Mừng trong thời đại chúng ta. Như Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định trong bài giảng thánh lễ và nghi thức phong thánh cho chân phúc Francisco Marto và Jacinta Marto, tại Quảng trường trước Đền thờ Đức Mẹ Fatima, ngày 13 tháng 5 năm 2017: “Chúng ta có một Người Mẹ! Mẹ đã đến để nhắc nhở chúng ta về Ánh sáng của Thiên Chúa đang cư ngụ trong chúng ta và che chở chúng ta…Bám chặt vào Mẹ như con cái, chúng ta sống trong niềm hy vọng đặt nơi Chúa Giêsu!” [1].

2. Lời mời gọi Hoán cải: Để không còn xúc phạm đến Chúa

Nội dung cốt lõi đầu tiên của sứ điệp Fatima chính là sự hoán cải. Đức Mẹ đã cho các trẻ nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng của hỏa ngục, không phải để gieo rắc sự sợ hãi, nhưng để đánh thức trách nhiệm của chúng ta [2]. Mẹ nói: “Hãy cải thiện đời sống và cầu xin ơn tha thứ cho các tội lỗi của mình. Đừng xúc phạm đến Chúa là Thiên Chúa của chúng ta thêm nữa, vì Người đã bị xúc phạm quá nhiều rồi”.

Lời này vang vọng lời tiên báo của Chúa Giêsu: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Sám hối ở Fatima không chỉ là hối hận về quá khứ, mà là một cuộc chuyển hướng tâm hồn về phía Thiên Chúa. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, khi còn là Hồng y Joseph Ratzinger, đã giải thích trong văn kiện về Bí mật Fatima rằng: “Trong một khoảnh khắc kinh hoàng, các em nhỏ đã được nhìn thấy địa ngục. Các em thấy sự sa ngã của “các linh hồn tội nhân khốn khổ”. Và giờ đây, các em được cho biết lý do tại sao các em lại được chứng kiến ​​khoảnh khắc này: “để cứu rỗi các linh hồn – để chỉ ra con đường cứu rỗi”…. [2]. Việc nhìn thấy hỏa ngục là một lời cảnh báo về hậu quả của sự tự do khi con người khước từ Thiên Chúa, là lời kêu mời sự hoán cải.

3. Kinh Mân Côi: Vũ khí của Hòa bình

Mẹ Fatima đã tự xưng mình là “Đức Mẹ Mân Côi”. Trong cả sáu lần hiện ra, Mẹ đều lặp lại một mệnh lệnh duy nhất: “Hãy siêng năng lần hạt Mân Côi hằng ngày”. Tại sao lại là kinh Mân Côi? Bởi vì kinh Mân Côi là bản tóm lược Tin Mừng, là con đường đơn giản nhất để chiêm ngắm dung nhan Chúa Kitô qua đôi mắt của Mẹ Maria.

Trong thế giới đầy biến động / chiến tranh ngày nay, kinh Mân Côi chính là khí cụ của hòa bình. Mỗi hạt kinh là một bước chân cùng Mẹ đi sâu vào mầu nhiệm cứu độ. “Phúc thay người mẹ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú!” (Lc 11,27) – lời ca ngợi trong Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng Mẹ Maria diễm phúc vì Mẹ đã lắng nghe và thực hành lời Chúa một cách trọn hảo nhất. Khi chúng ta lần hạt, chúng ta đang học cách lắng nghe Chúa như Mẹ.

4. Trái Tim Vô Nhiễm: Nơi trú ẩn và Hy vọng

Đức Mẹ, Ngôi Sao hy vọng,  chính Mẹ đã hứa với chị Lucia: “Mẹ sẽ không bao giờ bỏ rơi con. Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ sẽ là nơi con trú ẩn và là con đường dẫn con đến với Thiên Chúa”. Trái Tim của Mẹ là một trái tim luôn thưa “Xin Vâng”, một trái tim không bao giờ đóng lại trước tình thương của Thiên Chúa, là nơi trú ẩn và Hy vọng cho các tâm hồn đang đau khổ.

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người đã cảm nhận được bàn tay mẫu tử của Đức Mẹ Fatima cứu ngài khỏi viên đạn sát thủ vào ngày 13 tháng 5 năm 1981, đã nhắn nhủ: “Sứ điệp Fatima là một lời kêu gọi hoán cải và đền tội… đó là một lời nhắc nhở về tình mẫu tử của Đức Maria đối với toàn thể nhân loại”. Ngài đã tận hiến toàn thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ, bởi ngài hiểu rằng khi nhân loại đặt mình dưới sự che chở của Mẹ, bóng tối của sự dữ sẽ phải lùi bước.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, đã viết trong văn kiện về Bí mật Fatima về điều trên rằng: “Ngài đã rất gần cái chết, và chính ngài đã giải thích sự sống sót của mình bằng những lời sau: “… chính bàn tay của người mẹ đã dẫn đường viên đạn và trong cơn hấp hối, Đức Giáo Hoàng đã dừng lại ở ngưỡng cửa tử thần” (13 tháng 5 năm 1994). Việc “bàn tay người mẹ” đã đỡ được viên đạn định mệnh chỉ càng chứng tỏ một lần nữa rằng không có số phận nào là bất biến, rằng đức tin và lời cầu nguyện là những sức mạnh có thể tác động đến lịch sử và cuối cùng, lời cầu nguyện mạnh hơn đạn dược và đức tin mạnh hơn cả quân độiVì vậy, khải tượng của phần thứ ba của “bí mật”, thoạt đầu có vẻ đau lòng, kết thúc bằng một hình ảnh của hy vọng: không có đau khổ nào là vô ích, và chính Giáo Hội đau khổ, Giáo Hội của các vị tử đạo, mới trở thành ngọn hải đăng cho con người trong hành trình tìm kiếm Thiên Chúa ” [2].   

5. Sống Sứ điệp Fatima hôm nay

Chúng ta cử hành lễ Đức Mẹ Fatima không phải để hồi tưởng một biến cố quá khứ, mà để thực hành ba mệnh lệnh: Cải thiện đời sống, Siêng năng lần hạt Mân Côi, và Tôn sùng Mẫu Tâm.

Hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi: Tôi đã thực sự hoán cải chưa? Gia đình tôi có còn duy trì giờ kinh tối lần hạt Mân Côi không? Tôi có đặt niềm hy vọng vào tình mẫu tử của Mẹ giữa những gian nan thử thách của cuộc sống không?

Chúa Giêsu đã nói với chị Lucia: “Chúa Giêsu muốn dùng con để loan truyền cho mọi người biết ta và yêu mến ta”. Lời này hôm nay dành cho mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy trở thành những cánh tay nối dài của Mẹ, mang ánh sáng hy vọng đến cho những tâm hồn đang thất vọng, mang bình an đến cho những nơi đang xung đột.

“Nhờ sự che chở của Đức Mẹ Maria, nguyện xin chúng ta trở thành những người canh giữ bình minh cho thế giới, chiêm nghiệm dung mạo đích thực của Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế, rạng rỡ trong mùa Phục Sinh”.[1]

Nguyện xin Đức Mẹ Fatima cầu bầu cho chúng con, để mỗi ngày chúng con biết yêu mến Trái Tim Mẹ hơn, hầu chúng con được dẫn đưa đến nguồn mạch Ánh Sáng thật là Chúa Giêsu, Chúa chúng con.


 [1]. Đức Thánh Cha Phanxicô, Fatima, 13/5/2017,   https://www.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2017/documents/papa-francesco_20170513_omelia-pellegrinaggio-fatima.html

[2]. Hồng y Joseph Ratzinger, Congregation for the Doctrine of the Faith, 2000. https://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/rc_con_cfaith_doc_20000626_message-fatima_en.html

Lễ Thánh MATTHIA -Tông đồ – Lễ kính ngày 14/5

Lễ Thánh MATTHIA -Tông đồ - Lễ kính ngày 14/5

TÌNH YÊU LÀ CỘI NGUỒN CỦA ƠN GỌI VÀ SỨ VỤ

Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16).

Cv 1,15-17.20-26; Ga 15,9-17

Lm. John Trần

Hôm nay, toàn thể Hội Thánh hân hoan mừng lễ Thánh Matthia Tông đồ. Đây là một ngày lễ đặc biệt, vì nó nhắc nhớ chúng ta rằng ơn gọi không bao giờ là sự tình cờ, nhưng là một phần trong kế hoạch quan phòng và đầy yêu thương của Thiên Chúa.

Sau sự phản bội của Giuđa, cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên đứng trước một khoảng trống. Bài đọc I từ sách Công vụ Tông đồ thuật lại việc Thánh Phêrô đứng lên giữa anh em để chọn một người thay thế vào vị trí tông đồ, nhằm làm chứng cho sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Và Matthia – một người đã thầm lặng đi theo Chúa từ ngày Người chịu phép rửa của ông Gioan cho đến khi Người lên trời – đã được chọn qua việc rút thăm sau những lời cầu nguyện khẩn thiết (Cv 1,15-26). Matthia không phải là người “lấp chỗ trống” theo nghĩa hành chính, nhưng ông là minh chứng cho việc Thiên Chúa luôn quan tâm bảo vệ và xây dựng Hội Thánh của Ngài.

1. Ở lại trong tình yêu – Cốt lõi của đời Kitô hữu

Tại sao Matthia lại được chọn? Câu trả lời nằm ngay trong bài Tin Mừng: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16).

Chúa Giêsu đưa ra một lời mời gọi thiết tha: “Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy” (Ga 15,9). Đối với Thánh Matthia, những năm tháng đi theo Chúa Giêsu một cách âm thầm chính là thời gian ông “ở lại” để được biến đổi. Đời sống Kitô hữu của chúng ta cũng vậy. Chúng ta không thể làm chứng cho Chúa nếu không nếm cảm được sự ngọt ngào của tình yêu Ngài.

Trong Tông huấn Gaudete et Exsultate, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh: “Đừng sợ thánh thiện. Nó không lấy đi sức mạnh, sự sống hay niềm vui của bạn. Trái lại, bạn sẽ trở thành điều mà Chúa Cha đã nghĩ đến khi Người dựng nên bạn” (Đức Thánh Cha Phanxicô, 2018). Thánh Matthia đã trở nên thánh thiện vì ông đã để cho tình yêu Chúa chiếm trọn cuộc đời mình, giúp ông trung thành dù là trong âm thầm hay khi đã được đặt lên hàng tông đồ.

2. Niềm vui từ sự vâng phục và hy sinh

Chúa Giêsu nói: “Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15,11). Nhiều người thường lầm tưởng rằng giữ giới răn của Chúa là mất tự do, là gánh nặng. Nhưng thực tế, vâng nghe lời Chúa chính là con đường dẫn đến niềm vui đích thực.

Tình yêu mà Chúa Giêsu đòi hỏi không phải là thứ tình cảm hời hợt, mà là: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Thánh Matthia đã đáp lại lời mời gọi này bằng cả mạng sống. Truyền thuyết kể lại rằng ông đã chịu tử đạo để bảo vệ đức tin. Ông không coi đó là một định mệnh nghiệt ngã, nhưng là một đặc ân vì được trở thành “bạn hữu” của Chúa (Ga 15,15).

3. Sứ vụ sinh hoa trái giữa lòng đời

Sứ điệp hôm nay gửi đến mỗi người chúng ta là gì?

Chúa chọn Matthia giữa cộng đoàn, và Chúa cũng chọn mỗi chúng ta trong vị thế riêng biệt: là người cha, người mẹ, là công nhân, giáo viên hay học sinh. Ngài chọn chúng ta không phải vì chúng ta tài giỏi hơn người khác, nhưng vì Ngài muốn dùng chúng ta như khí cụ của tình yêu.

Chúa nói: “Thầy cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại” (Ga 15,16). Hoa trái đó không phải là những thành tích bên ngoài, mà là sự bình an, lòng bác ái và sự hiệp nhất. Khi chúng ta yêu thương nhau như Chúa đã yêu (Ga 15,12), chúng ta đang tiếp nối sứ mạng tông đồ của Matthia.

Toàn thể Hội Thánh là tông đồ, theo nghĩa là qua các chi thể của mình… Hội Thánh được sai đi vào thế gian. Mừng lễ Thánh Matthia, chúng ta hãy xin Chúa ban cho mình một trái tim khiêm tốn như Ngài. Đừng tìm kiếm những chỗ nhất, nhưng hãy tìm cách để “ở lại” trong Chúa sâu đậm nhất. Khi tâm hồn ta tràn đầy tình yêu Chúa, tự khắc đời sống ta sẽ trở thành một bài giảng sống động, mang lại hy vọng cho những người đang sống trong thất vọng và đem ánh sáng đến những nơi đang bị bao phủ bởi bóng tối của hận thù.

Lạy Thánh Matthia, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con, để chúng con luôn trung thành với ơn gọi làm môn đệ Chúa, và biết yêu thương anh em mình bằng một tình yêu hy hiến, như Chúa đã yêu thương chúng con. Amen.

Thứ Bảy Tuần 4 – Phục Sinh – Thánh Athanasiô, ngày 02/05

Thánh Athanasiô, 02/05

THẤY CHÚA CHA QUA CHÚA CON

“Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” (Ga 14,9).

Cv 13,44-52 ; Ga 14,7-14

Lm. John Trần

Lời Chúa trong ngày Thứ Bảy tuần IV Phục Sinh hôm nay đưa chúng ta vào trọng tâm của mầu nhiệm đức tin: sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con. Đồng thời, qua gương sáng của Thánh Athanasiô mà Giáo hội mừng kính hôm nay, chúng ta được mời gọi bảo vệ chân lý ấy với lòng can trường không lay chuyển.

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” (Ga 14,9). Trước mong ước của Philipphê là được xem thấy Chúa Cha, Chúa Giêsu chỉ cho ông thấy rằng Ngài không phải là một vị ngôn sứ xa lạ, mà là hiện thân trọn vẹn của Thiên Chúa. Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài.

Đây không phải là một kiến thức lý thuyết, mà là nền tảng của ơn cứu độ. Nếu Chúa Giêsu không phải là Thiên Chúa thật, thì cái chết của Ngài không thể cứu chuộc nhân loại.

Chân lý về thiên tính của Chúa Kitô mà chúng ta vừa nghe chính là điều mà Thánh Athanasiô đã dành trọn cuộc đời để bảo vệ.

Thánh Athanasiô (Athanasius) sinh vào khoảng năm 297 tại Alêxanđria, nước Ai Cập. Thánh Athanasiô qua đời trong an bình vào ngày mùng 2 tháng Năm năm 373… Thánh nhân đã trung thành tận hiến đời mình để minh chứng Đức Chúa Giêsu là Thiên Chúa chân thật. Điều này quan trọng bởi vì một số người theo bè rối Ariô đã chối bỏ chân lý này. Ngay trước khi làm linh mục, Thánh Athanasiô đã đọc nhiều sách dạy về đức tin. Đó là lý do tại sao Thánh nhân có thể dễ dàng vạch ra những giáo huấn sai lầm của bè rối Ariô, Thánh Athanasiô làm Tổng Giám mục thành Alêxanđria khi chưa đầy ba mươi tuổi. Suốt bốn mươi sáu năm, Athanasiô là một mục tử hết sức anh dũng. Cả bốn vị hoàng đế Rôma đã không thể nào bắt ép Athanasiô thôi viết những bài giải thích rất hay và rất rõ ràng về đức tin thánh thiện của Kitô giáo. Các kẻ thù của Athanasiô thì tìm mọi cách để khủng bố ngài [*].

Vào thế kỷ IV, bè rối Ariô trỗi dậy, cho rằng Chúa Giêsu chỉ là một thụ tạo cao cấp chứ không phải Thiên Chúa: “Theo Arius, Chúa Kitô không phải là Thiên Chúa, không ngang hàng không đồng bản tính với Ngôi Cha. Ngài chỉ là một tạo vật hoàn hảo nhất, có trước thời gian, nhưng không phải vô thủy vô chung. Ngài được chọn làm Con Thiên Chúa, được tham dự Thiên tính, được đặt làm trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Arius mượn lời trong Phúc âm thánh Gioan: ”Cha Ta cao trọng hơn Ta” (XIV, 28), để minh chứng sự xa cách giữa Chúa Cha và Chúa Con” [*].

 Thánh Athanasiô, khi đó là Giám mục Alexandria, đã đứng lên chống lại luồng gió độc này. Cuộc đời Ngài bị lưu đày tới năm lần, chịu trăm bề khổ cực, nhưng vẫn kiên cường xác tín: Chúa Giêsu đồng bản thể với Chúa Cha.

Ngài hiểu rằng nếu phủ nhận thần tính của Chúa Kitô, đức tin Kitô giáo sẽ sụp đổ. Gương sáng của Ngài nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc học hỏi và giữ vững giáo lý chính thống giữa một thế gian đầy rẫy những quan niệm lệch lạc về tôn giáo.

Bài đọc I từ sách Công vụ Tông đồ cho thấy một bức tranh tương tự: Các tông đồ rao giảng Lời Chúa và bị chống đối kịch liệt. Người Do Thái ganh tị và trục xuất các ông. Tuy nhiên, thay vì ngã lòng, các môn đệ “được tràn đầy niềm vui và Thánh Thần” (Cv 13,52).

Thánh Athanasiô cũng thế, ngài tìm thấy niềm vui trong đau khổ vì biết mình đang bảo vệ sự thật. Lời hứa của Chúa Giêsu: “Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm… vì Thầy đến cùng Chúa Cha” (Ga 14,12) đã trở thành sức mạnh cho Ngài. Khi chúng ta bám chặt vào Chúa Kitô, chúng ta sẽ có sức mạnh để vượt qua mọi sự bách hại và hiểu lầm.

Mừng lễ Thánh Athanasiô hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa ban cho mỗi người một đức tin vững vàng. Xin cho chúng con không chỉ “thấy” Chúa qua môi miệng, nhưng thấy Ngài hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, trong Lời Chúa và nơi những anh chị em đau khổ.

Lạy Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Thánh Athanasiô, xin giúp chúng con luôn can đảm tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa thật, để chúng con được chung hưởng niềm vui dồi dào của Đấng Phục Sinh. Amen.


[*].https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-02-05-thanh-athanasiogiam-muc-tien-si-hoi-thanh-295-373-48720

Thánh Giuse Thợ – ngày Quốc tế Lao động 1-5

Thánh Giuse Thợ - ngày Quốc tế Lao động 1-5

THÁNH HÓA LAO ĐỘNG THEO GƯƠNG THÁNH GIUSE

Ông này không phải là con bác thợ sao?” (Mt 13,55).

St 1,26–2,3 ; Cl 3,14-15.17.23-24 ; Mt 13,54-58

Lm. Gioan Trần

Hôm nay, hòa chung niềm vui với toàn thế giới trong ngày Quốc tế Lao động, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng gương lao động của Thánh Giuse Thợ. Đây không chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng là một lời khẳng định mạnh mẽ về giá trị linh thánh của lao động trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

1. Lao động: Cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa

Ngay từ những trang đầu của sách Sáng Thế, chúng ta thấy một Thiên Chúa làm việc. Ngài sáng tạo vũ trụ, muôn vật và cuối cùng là con người. Lời Chúa khẳng định: “Thiên Chúa phán: ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Chúng ta’” (St 1,26). Sau khi hoàn tất, Ngài nghỉ ngơi và thánh hóa ngày thứ bảy.

Khi làm việc, con người không chỉ đơn thuần là tìm kế sinh nhai, mà đang thực thi mệnh lệnh của Đấng Tạo Hóa: làm chủ trái đất và cộng tác vào việc hoàn thiện công trình sáng tạo.

Thánh Giuse tại xưởng mộc Nazaret đã cụ thể hóa chân lý này. Những nhát rìu, những đường bào của Ngài không chỉ tạo ra vật dụng, mà là lời kinh dâng lên Thiên Chúa. Lao động, vì thế, là một ơngọi cao cả chứ không phải là một hình phạt.

2. Phẩm giá của người lao động

Bài Tin Mừng theo thánh Matthêu đưa chúng ta về quê hương Nazaret, nơi dân chúng sửng sốt hỏi nhau: “Ông này không phải là con bác thợ sao?” (Mt 13,55). Trong mắt người đời, danh xưng “con bác thợ” có vẻ tầm thường, nhưng đối với Thiên Chúa, đó là một tước hiệu cao quý.

Chúa Giêsu – Ngôi Lời nhập thể – đã dành phần lớn cuộc đời mình để làm việc bên cạnh Thánh Giuse. Ngài đã thánh hóa đôi bàn tay chai sần và những giọt mồ hôi của người lao động. Sự hiện diện của Chúa tại xưởng mộc cho thấy rằng: giá trị của con người không đo bằng địa vị hay thu nhập, nhưng đo bằng tình yêu và sự trung tín họ đặt vào công việc.

Trong Sắc lệnh Laborem Exercens, Số 27, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh Lao động là một thiện ích cho con người… vì nhờ lao động, con người không những biến đổi thiên nhiên, thích nghi nó với những nhu cầu của mình, mà còn tự hoàn mình với tư cách là con người, là đang vác thập tự giá mỗi ngày theo chân Đức Kitô trong sự vất vả của lao động:

Mồ hôi và lao nhọc, công việc tất yếu gắn liền với tình trạng hiện tại của nhân loại, mang đến cho người Kitô hữu và tất cả những ai được kêu gọi theo Chúa Kitô khả năng chia sẻ một cách yêu thương trong công việc mà Chúa Kitô đã đến để thực hiện. Công việc cứu rỗi này đã được thực hiện thông qua sự đau khổ và cái chết trên Thập tự giá. Bằng cách chịu đựng sự lao nhọc trong sự hiệp nhất với Chúa Kitô chịu đóng đinh vì chúng ta, con người theo một cách nào đó cộng tác với Con Thiên Chúa để cứu chuộc nhân loại. Anh ta tỏ ra là một môn đệ đích thực của Chúa Kitô bằng cách vác thập tự giá mỗi ngày trong hoạt động mà anh ta được kêu gọi thực hiện”[1].

3. Làm việc vì lòng mến Chúa

Thánh Phaolô trong bài đọc II đã đưa ra một nguyên tắc vàng cho mọi Kitô hữu lao động: “Anh em làm bất cứ việc gì, hãy làm tận tâm như làm cho Chúa, chứ không phải cho người đời” (Cl 3,23).

Thánh Giuse chính là mẫu gương của sự “tận tâm” đó. Ngài làm việc trong thầm lặng, không phô trương, nhưng đầy trách nhiệm để nuôi dưỡng Thánh Gia. Lao động của Ngài thấm đượm đức ái và sự bình an của Chúa Kitô. Khi chúng ta làm việc với ý lực dâng hiến, thì văn phòng, nhà máy, đồng ruộng hay gian bếp đều trở thành cung thánh.

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Tông thư Patris Corde, Ngày 8/12/2020, đã nhắc nhở chúng ta về lao động và gương sáng của Thánh Giuse:

 “Thánh Giuse là một người thợ mộc làm việc lương thiện để nuối sống gia đình. Nơi Thánh Giuse, Chúa Giêsu đã học được giá trị, phẩm giá và niềm vui của việc ăn miếng bánh là thành quả lao động của chính mình. … Lao động trở thành cơ hội để con người nhận ra chính mình và trên hết là gia đình mình… Một gia đình thiếu việc làm sẽ phải đối mặt với những khó khăn, căng thẳng và chia rẽ” [2]. Vì vậy, ngày hôm nay cũng là dịp để chúng ta cầu nguyện cho những người thất nghiệp, những người đang phải lao động trong môi trường bất công hay cực nhọc.

Đức Thánh Cha Phanxicô còn viết tiếp: “Thánh Phaolô VI đã chỉ ra rằng Thánh Giuse đã thể hiện một cách cụ thể vai trò làm cha của mình “bằng cách biến cuộc đời mình trở thành của lễ hy sinh phục vụ mầu nhiệm nhập thể cùng với sứ vụ cứu thế. Thánh Giuse dùng quyền hạn hợp pháp của mình đối với Thánh Gia để cống hiến hết mình cho các ngài trong cuộc sống và công việc của mình. Ngài đã biến ơn gọi sống tình yêu gia đình của phàm nhân thành sự dâng hiến siêu phàm chính mình, trái tim và tất cả khả năng của mình, một tình yêu được dành để phục vụ Đấng Mêsia đang lớn lên trong mái ấm của ngài” [2].

Thưa cộng đoàn, nhìn vào gương Thánh Giuse Thợ, chúng ta được mời gọi tìm thấy niềm vui trong lao động hằng ngày. Đừng bao giờ coi công việc là gánh nặng, nhưng hãy biến nó thành con đường nên thánh.

Lạy Thánh Giuse Thợ, xin cầu bầu cho chúng con biết yêu mến công việc mình làm, biết dùng lao động để phục vụ anh chị em và làm sáng danh Chúa. Xin Chúa chúc lành cho bàn tay và khối óc của tất cả những người lao động trên toàn thế giới.

“Lạy Thánh Giuse diễm phúc,

xin cũng hãy tỏ ra ngài là cha của chúng con

và hướng dẫn chúng con đi trên đường đời.

Xin ban cho chúng con ân sủng, lòng thương xót và lòng can đảm,

và xin bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ. Amen” [2].


Tham khảo tài liệu:

 [1]. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Sắc lệnh Laborem Exercens, 1981, Số 27, https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/en/encyclicals/documents/hf_jp-ii_enc_14091981_laborem-exercens.html

[2]. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Tông thư Patris Corde, Ngày 8/12/2020; https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2020-12/tong-thu-patris-corde.html