Thứ Bảy Tuần 4 – Phục Sinh – Thánh Athanasiô, ngày 02/05

Thánh Athanasiô, 02/05

THẤY CHÚA CHA QUA CHÚA CON

“Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” (Ga 14,9).

Cv 13,44-52 ; Ga 14,7-14

Lm. John Trần

Lời Chúa trong ngày Thứ Bảy tuần IV Phục Sinh hôm nay đưa chúng ta vào trọng tâm của mầu nhiệm đức tin: sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con. Đồng thời, qua gương sáng của Thánh Athanasiô mà Giáo hội mừng kính hôm nay, chúng ta được mời gọi bảo vệ chân lý ấy với lòng can trường không lay chuyển.

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” (Ga 14,9). Trước mong ước của Philipphê là được xem thấy Chúa Cha, Chúa Giêsu chỉ cho ông thấy rằng Ngài không phải là một vị ngôn sứ xa lạ, mà là hiện thân trọn vẹn của Thiên Chúa. Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài.

Đây không phải là một kiến thức lý thuyết, mà là nền tảng của ơn cứu độ. Nếu Chúa Giêsu không phải là Thiên Chúa thật, thì cái chết của Ngài không thể cứu chuộc nhân loại.

Chân lý về thiên tính của Chúa Kitô mà chúng ta vừa nghe chính là điều mà Thánh Athanasiô đã dành trọn cuộc đời để bảo vệ.

Thánh Athanasiô (Athanasius) sinh vào khoảng năm 297 tại Alêxanđria, nước Ai Cập. Thánh Athanasiô qua đời trong an bình vào ngày mùng 2 tháng Năm năm 373… Thánh nhân đã trung thành tận hiến đời mình để minh chứng Đức Chúa Giêsu là Thiên Chúa chân thật. Điều này quan trọng bởi vì một số người theo bè rối Ariô đã chối bỏ chân lý này. Ngay trước khi làm linh mục, Thánh Athanasiô đã đọc nhiều sách dạy về đức tin. Đó là lý do tại sao Thánh nhân có thể dễ dàng vạch ra những giáo huấn sai lầm của bè rối Ariô, Thánh Athanasiô làm Tổng Giám mục thành Alêxanđria khi chưa đầy ba mươi tuổi. Suốt bốn mươi sáu năm, Athanasiô là một mục tử hết sức anh dũng. Cả bốn vị hoàng đế Rôma đã không thể nào bắt ép Athanasiô thôi viết những bài giải thích rất hay và rất rõ ràng về đức tin thánh thiện của Kitô giáo. Các kẻ thù của Athanasiô thì tìm mọi cách để khủng bố ngài [*].

Vào thế kỷ IV, bè rối Ariô trỗi dậy, cho rằng Chúa Giêsu chỉ là một thụ tạo cao cấp chứ không phải Thiên Chúa: “Theo Arius, Chúa Kitô không phải là Thiên Chúa, không ngang hàng không đồng bản tính với Ngôi Cha. Ngài chỉ là một tạo vật hoàn hảo nhất, có trước thời gian, nhưng không phải vô thủy vô chung. Ngài được chọn làm Con Thiên Chúa, được tham dự Thiên tính, được đặt làm trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Arius mượn lời trong Phúc âm thánh Gioan: ”Cha Ta cao trọng hơn Ta” (XIV, 28), để minh chứng sự xa cách giữa Chúa Cha và Chúa Con” [*].

 Thánh Athanasiô, khi đó là Giám mục Alexandria, đã đứng lên chống lại luồng gió độc này. Cuộc đời Ngài bị lưu đày tới năm lần, chịu trăm bề khổ cực, nhưng vẫn kiên cường xác tín: Chúa Giêsu đồng bản thể với Chúa Cha.

Ngài hiểu rằng nếu phủ nhận thần tính của Chúa Kitô, đức tin Kitô giáo sẽ sụp đổ. Gương sáng của Ngài nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc học hỏi và giữ vững giáo lý chính thống giữa một thế gian đầy rẫy những quan niệm lệch lạc về tôn giáo.

Bài đọc I từ sách Công vụ Tông đồ cho thấy một bức tranh tương tự: Các tông đồ rao giảng Lời Chúa và bị chống đối kịch liệt. Người Do Thái ganh tị và trục xuất các ông. Tuy nhiên, thay vì ngã lòng, các môn đệ “được tràn đầy niềm vui và Thánh Thần” (Cv 13,52).

Thánh Athanasiô cũng thế, ngài tìm thấy niềm vui trong đau khổ vì biết mình đang bảo vệ sự thật. Lời hứa của Chúa Giêsu: “Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm… vì Thầy đến cùng Chúa Cha” (Ga 14,12) đã trở thành sức mạnh cho Ngài. Khi chúng ta bám chặt vào Chúa Kitô, chúng ta sẽ có sức mạnh để vượt qua mọi sự bách hại và hiểu lầm.

Mừng lễ Thánh Athanasiô hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa ban cho mỗi người một đức tin vững vàng. Xin cho chúng con không chỉ “thấy” Chúa qua môi miệng, nhưng thấy Ngài hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, trong Lời Chúa và nơi những anh chị em đau khổ.

Lạy Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Thánh Athanasiô, xin giúp chúng con luôn can đảm tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa thật, để chúng con được chung hưởng niềm vui dồi dào của Đấng Phục Sinh. Amen.


[*].https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-02-05-thanh-athanasiogiam-muc-tien-si-hoi-thanh-295-373-48720

Thánh Giuse Thợ – ngày Quốc tế Lao động 1-5

Thánh Giuse Thợ - ngày Quốc tế Lao động 1-5

THÁNH HÓA LAO ĐỘNG THEO GƯƠNG THÁNH GIUSE

Ông này không phải là con bác thợ sao?” (Mt 13,55).

St 1,26–2,3 ; Cl 3,14-15.17.23-24 ; Mt 13,54-58

Lm. Gioan Trần

Hôm nay, hòa chung niềm vui với toàn thế giới trong ngày Quốc tế Lao động, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng gương lao động của Thánh Giuse Thợ. Đây không chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng là một lời khẳng định mạnh mẽ về giá trị linh thánh của lao động trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

1. Lao động: Cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa

Ngay từ những trang đầu của sách Sáng Thế, chúng ta thấy một Thiên Chúa làm việc. Ngài sáng tạo vũ trụ, muôn vật và cuối cùng là con người. Lời Chúa khẳng định: “Thiên Chúa phán: ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Chúng ta’” (St 1,26). Sau khi hoàn tất, Ngài nghỉ ngơi và thánh hóa ngày thứ bảy.

Khi làm việc, con người không chỉ đơn thuần là tìm kế sinh nhai, mà đang thực thi mệnh lệnh của Đấng Tạo Hóa: làm chủ trái đất và cộng tác vào việc hoàn thiện công trình sáng tạo.

Thánh Giuse tại xưởng mộc Nazaret đã cụ thể hóa chân lý này. Những nhát rìu, những đường bào của Ngài không chỉ tạo ra vật dụng, mà là lời kinh dâng lên Thiên Chúa. Lao động, vì thế, là một ơngọi cao cả chứ không phải là một hình phạt.

2. Phẩm giá của người lao động

Bài Tin Mừng theo thánh Matthêu đưa chúng ta về quê hương Nazaret, nơi dân chúng sửng sốt hỏi nhau: “Ông này không phải là con bác thợ sao?” (Mt 13,55). Trong mắt người đời, danh xưng “con bác thợ” có vẻ tầm thường, nhưng đối với Thiên Chúa, đó là một tước hiệu cao quý.

Chúa Giêsu – Ngôi Lời nhập thể – đã dành phần lớn cuộc đời mình để làm việc bên cạnh Thánh Giuse. Ngài đã thánh hóa đôi bàn tay chai sần và những giọt mồ hôi của người lao động. Sự hiện diện của Chúa tại xưởng mộc cho thấy rằng: giá trị của con người không đo bằng địa vị hay thu nhập, nhưng đo bằng tình yêu và sự trung tín họ đặt vào công việc.

Trong Sắc lệnh Laborem Exercens, Số 27, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh Lao động là một thiện ích cho con người… vì nhờ lao động, con người không những biến đổi thiên nhiên, thích nghi nó với những nhu cầu của mình, mà còn tự hoàn mình với tư cách là con người, là đang vác thập tự giá mỗi ngày theo chân Đức Kitô trong sự vất vả của lao động:

Mồ hôi và lao nhọc, công việc tất yếu gắn liền với tình trạng hiện tại của nhân loại, mang đến cho người Kitô hữu và tất cả những ai được kêu gọi theo Chúa Kitô khả năng chia sẻ một cách yêu thương trong công việc mà Chúa Kitô đã đến để thực hiện. Công việc cứu rỗi này đã được thực hiện thông qua sự đau khổ và cái chết trên Thập tự giá. Bằng cách chịu đựng sự lao nhọc trong sự hiệp nhất với Chúa Kitô chịu đóng đinh vì chúng ta, con người theo một cách nào đó cộng tác với Con Thiên Chúa để cứu chuộc nhân loại. Anh ta tỏ ra là một môn đệ đích thực của Chúa Kitô bằng cách vác thập tự giá mỗi ngày trong hoạt động mà anh ta được kêu gọi thực hiện”[1].

3. Làm việc vì lòng mến Chúa

Thánh Phaolô trong bài đọc II đã đưa ra một nguyên tắc vàng cho mọi Kitô hữu lao động: “Anh em làm bất cứ việc gì, hãy làm tận tâm như làm cho Chúa, chứ không phải cho người đời” (Cl 3,23).

Thánh Giuse chính là mẫu gương của sự “tận tâm” đó. Ngài làm việc trong thầm lặng, không phô trương, nhưng đầy trách nhiệm để nuôi dưỡng Thánh Gia. Lao động của Ngài thấm đượm đức ái và sự bình an của Chúa Kitô. Khi chúng ta làm việc với ý lực dâng hiến, thì văn phòng, nhà máy, đồng ruộng hay gian bếp đều trở thành cung thánh.

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Tông thư Patris Corde, Ngày 8/12/2020, đã nhắc nhở chúng ta về lao động và gương sáng của Thánh Giuse:

 “Thánh Giuse là một người thợ mộc làm việc lương thiện để nuối sống gia đình. Nơi Thánh Giuse, Chúa Giêsu đã học được giá trị, phẩm giá và niềm vui của việc ăn miếng bánh là thành quả lao động của chính mình. … Lao động trở thành cơ hội để con người nhận ra chính mình và trên hết là gia đình mình… Một gia đình thiếu việc làm sẽ phải đối mặt với những khó khăn, căng thẳng và chia rẽ” [2]. Vì vậy, ngày hôm nay cũng là dịp để chúng ta cầu nguyện cho những người thất nghiệp, những người đang phải lao động trong môi trường bất công hay cực nhọc.

Đức Thánh Cha Phanxicô còn viết tiếp: “Thánh Phaolô VI đã chỉ ra rằng Thánh Giuse đã thể hiện một cách cụ thể vai trò làm cha của mình “bằng cách biến cuộc đời mình trở thành của lễ hy sinh phục vụ mầu nhiệm nhập thể cùng với sứ vụ cứu thế. Thánh Giuse dùng quyền hạn hợp pháp của mình đối với Thánh Gia để cống hiến hết mình cho các ngài trong cuộc sống và công việc của mình. Ngài đã biến ơn gọi sống tình yêu gia đình của phàm nhân thành sự dâng hiến siêu phàm chính mình, trái tim và tất cả khả năng của mình, một tình yêu được dành để phục vụ Đấng Mêsia đang lớn lên trong mái ấm của ngài” [2].

Thưa cộng đoàn, nhìn vào gương Thánh Giuse Thợ, chúng ta được mời gọi tìm thấy niềm vui trong lao động hằng ngày. Đừng bao giờ coi công việc là gánh nặng, nhưng hãy biến nó thành con đường nên thánh.

Lạy Thánh Giuse Thợ, xin cầu bầu cho chúng con biết yêu mến công việc mình làm, biết dùng lao động để phục vụ anh chị em và làm sáng danh Chúa. Xin Chúa chúc lành cho bàn tay và khối óc của tất cả những người lao động trên toàn thế giới.

“Lạy Thánh Giuse diễm phúc,

xin cũng hãy tỏ ra ngài là cha của chúng con

và hướng dẫn chúng con đi trên đường đời.

Xin ban cho chúng con ân sủng, lòng thương xót và lòng can đảm,

và xin bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ. Amen” [2].


Tham khảo tài liệu:

 [1]. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Sắc lệnh Laborem Exercens, 1981, Số 27, https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/en/encyclicals/documents/hf_jp-ii_enc_14091981_laborem-exercens.html

[2]. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Tông thư Patris Corde, Ngày 8/12/2020; https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2020-12/tong-thu-patris-corde.html

Thứ Năm – Tuần 4 – Mùa Phục Sinh

Thứ Năm - Tuần VII - Mùa Phục Sinh

KHIÊM NHƯỜNG TRONG PHỤC VỤ

Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.” (Ga 13,16).

Cv 13,13-25; Ga 13,16-20

Lm. John Trần

Lời Chúa trong ngày Thứ Năm tuần IV Phục Sinh hôm nay dẫn chúng ta đi từ những bước chân truyền giáo đầu tiên của Thánh Phaolô đến những lời giáo huấn tâm huyết của Chúa Giêsu trong bữa Tiệc Ly. Cả hai bài đọc đều gặp nhau ở một điểm chung: căn tính của người được sai đi là sự khiêm nhường phục vụ.

Trong bài đọc I, tại Antiôkhia miền Pixiđia, Thánh Phaolô đã trình bày một bản tóm kết lịch sử cứu độ. Ngài nhấn mạnh rằng mọi biến cố từ thời Xuất Hành đến các vị Thẩm Phán và vua Đavít đều hướng về Đức Giêsu. Đặc biệt, Phaolô nhắc lại lời của Gioan Tẩy Giả: “Tôi không phải là Đấng anh em mong đợi, nhưng kìa Đấng ấy đang đến sau tôi, và tôi không đáng cởi dép cho Người.” (Cv 13,25).

Đây là thái độ mẫu mực của một người phục vụ Tin Mừng: không quy hướng về mình, nhưng xóa mình đi để Đấng là nguồn thật sự được hiện rõ. Gioan Tẩy Giả đã chấp nhận nhỏ lại để Chúa được lớn lên. Thánh Phaolô cũng thế, ngài không giảng về chính mình nhưng giảng về một Đức Kitô đã phục sinh.

Chân lý ấy được chính Chúa Giêsu xác quyết trong bài Tin Mừng: “Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.” (Ga 13,16). Bối cảnh của lời này là ngay sau khi Chúa rửa chân cho các môn đệ. Vị Thầy Chí Thánh đã quỳ xuống, thì người môn đệ không có lý do gì để đứng kiêu ngạo.

Chúa Giêsu thiết lập một trật tự mới: quyền lực nằm ở sự phục vụ. Khi chúng ta được Chúa trao cho một chức vụ, một ơn gọi hay một công tác trong Giáo hội, đó không phải là để thống trị nhưng để “rửa chân” cho anh chị em mình.

Chúa Giêsu kết thúc đoạn Tin Mừng bằng một lời hứa đầy an ủi: “Ai đón tiếp kẻ Thầy sai đến là đón tiếp chính Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” (Ga 13,20). Điều này khẳng định phẩm giá của người tông đồ. Dù chúng ta chỉ là những khí cụ thấp hèn, nhưng khi chúng ta nhân danh Chúa mà hành động, chính Chúa đang hiện diện và hoạt động qua chúng ta.

Thách đố cho chúng ta hôm nay là: Liệu chúng ta có đủ khiêm nhường để nhận ra Chúa nơi những người thấp bé mà Ngài sai đến với cuộc đời mình không? Và ngược lại, khi thực thi sứ vụ, chúng ta có đủ tinh tuyền để người khác nhìn thấy Chúa chứ không phải thấy cái tôi của mình không?

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con hiểu rằng hạnh phúc đích thực nằm ở việc thực hành Lời Chúa trong sự hạ mình. Xin cho chúng con luôn biết nhỏ bé lại để tình yêu và ánh sáng Phục Sinh của Chúa được tỏa rạng trên khuôn mặt chúng con. Amen.

Thứ Tư – Tuần 4 Phục Sinh, Thánh Catarina Siêna, 29/4.

Thánh Catarina Siêna -Trinh nữ

ÁNH SÁNG TIN MỪNG VÀ SỨ VỤ LÊN ĐƯỜNG

Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào Tôi, thì không ở lại trong bóng tối.” (Ga 12,46).

Cv 12,24-13,5a; Ga 12,44-50

Lm. John Trần

Hôm nay, Giáo hội mừng kính Thánh Catarina Siêna, một phụ nữ bé nhỏ nhưng mang trong mình ngọn lửa rực cháy của Chúa Thánh Thần. Lời Chúa trong ngày Thứ Tư tuần IV Phục Sinh cũng mời gọi chúng ta chiêm ngắm sức mạnh lan tỏa của Tin Mừng và sứ mạng đem ánh sáng đến cho thế gian.

Mở đầu bài đọc I, sách Công vụ Tông đồ khẳng định một sự thật đầy hy vọng: “Lời Thiên Chúa vẫn cứ lan tràn và phát triển mạnh mẽ.” (Cv 12,24). Bối cảnh lúc bấy giờ là Giáo hội đang chịu sự bách hại, nhưng Lời Chúa không bao giờ bị cầm tù. Tại Antiôkhia, khi cộng đoàn đang ăn chay và cầu nguyện, Chúa Thánh Thần đã phán: “Hãy dành riêng Barnaba và Saolô cho Ta, để các ông làm công việc Ta đã kêu gọi các ông làm.” (Cv 13,2).

Đây chính là khởi điểm của những cuộc hành trình truyền giáo vĩ đại. Một Giáo hội sống động là một Giáo hội biết lắng nghe Thánh Thần và can đảm “đi ra”. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Tông huấn Evangelii Gaudium, đã nhắn nhủ: “Mỗi Kitô hữu và mỗi cộng đoàn phải nhận ra con đường mà Chúa chỉ cho mình, nhưng tất cả chúng ta đều được mời gọi vâng theo tiếng gọi của Người để đi ra khỏi vùng đất an toàn của mình.” (Đức Thánh Cha Phanxicô, 2013).

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu công bố căn tính của Ngài như nguồn sáng: “Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào Tôi, thì không ở lại trong bóng tối.” (Ga 12,46). Tin vào Chúa Giêsu không chỉ là chấp nhận một giáo thuyết, mà là để ánh sáng của Ngài xuyên thấu vào mọi ngóc ngách u tối của tâm hồn, của tội lỗi và sự thất vọng.

Ngài nhấn mạnh rằng Ngài đến không phải để kết án, nhưng để cứu chuộc. Tuy nhiên, Lời của Ngài cũng chính là thước đo: ai từ chối Lời Ngài là từ chối sự sống.

Hôm nay, chúng ta nhìn vào Thánh Catarina Siêna, một tiến sĩ Hội Thánh, người đã sống trọn vẹn sứ mạng mang ánh sáng Tin Mừng vào lòng đời. Dù là một phụ nữ không được học hành cao, nhưng nhờ sự kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, bà đã trở thành vị cố vấn cho các Đức Giáo Hoàng và là người hòa giải cho các quốc gia.

Thánh Catarina Siêna, (1347-1380), dòng Ba Catarina, được Đức Piô II tôn phong hiển thánh, và lòng sùng kính ngài mau chóng lan rộng khắp Âu Châu. Thánh nữ Têrêsa Avila nói rằng: “Sau Thiên Chúa, người mà ngài mang ơn nhiều nhất về sự tiến bộ trên đường thiêng liêng là thánh nữ Catarina Siena”, “Catarina Benincasa chào đời tại thành Siena vào năm 1347, và gia nhập dòng Ba Đaminh khi còn rất trẻ. Ngài nổi bật về tinh thần cầu nguyện và sám hối. Được thúc đẩy vì tình yêu nồng nàn đối với Thiên Chúa, Giáo Hội, và Giáo Hoàng Roma, thánh nữ đã hoạt động không biết mệt mỏi cho sự nghiệp bình an và hợp nhất của Giáo Hội, trong những năm tháng gian truân của thời kỳ di tản Avignon. Thánh nữ đã dành rất nhiều thời gian hoạt động tại phủ Giáo Hoàng để thuyết phục Đức Grêgôriô XI trở về giáo đô Roma, vì đó mới chính là nơi Đấng Đại Diện Chúa Kitô điều hành toàn thể Giáo Hội. Chỉ vài hôm trước khi qua đời, ngày 29 tháng 4 năm 1380, thánh nữ đã tâm sự rằng: “Nếu tôi qua đời, hãy cho người ta biết rằng tôi chết vì nhiệt tâm với Giáo Hội.” [*].

Câu nói nổi tiếng của bà: “Nếu bạn sống đúng với căn tính mà Chúa muốn, bạn sẽ đốt cháy cả thế gian” chính là tiếng vang của sứ điệp hôm nay. Bà không ở lại trong bóng tối của sự sợ hãi hay tự mãn, nhưng đã để Lời Chúa “lan tràn và phát triển” qua chính cuộc đời mình. Bà yêu mến Hội Thánh với một tình yêu nồng cháy, dám lên tiếng sửa lỗi nhưng luôn trong sự vâng phục đức tin.

Thánh nữ Catarina luôn thẳng thắn và can đảm lên tiếng mỗi khi có vấn đề nào ảnh hưởng đến Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng, và lợi ích các linh hồn. Ngài cảm thấy mình có trách nhiệm phải bảo vệ chân lý. Ở điểm này, chúng ta có thể học được rất nhiều từ thánh nữ Catarina: ngài không bao giờ nhượng bộ trong những điều căn bản, bởi vì ngài đặt trót niềm tin nơi Chúa”[*].

Kính thưa cộng đoàn, mỗi chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội cũng được trao ban ngọn nến sáng từ nến Phục Sinh. Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta: đừng để ngọn nến ấy bị lụi tàn trong sự ích kỷ hay bị che khuất bởi bóng tối của tội lỗi.

Hãy học theo Thánh Catarina, biết dành thời gian lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần qua cầu nguyện và chay tịnh, để rồi từ đó, chúng ta có đủ can đảm trở thành “ánh sáng” cho gia đình, cho nơi làm việc và cho những người chưa nhận biết Chúa. Hãy nhớ rằng, mỗi hành động yêu thương, mỗi lời nói chân thành chính là lúc chúng ta thực thi lệnh truyền: “Tôi đã nói gì, thì Tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với Tôi.” (Ga 12,50).

Lạy Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Thánh Catarina Siêna, xin cho chúng con luôn say mê Lời Chúa và sẵn sàng lên đường thực thi sứ vụ, để ánh sáng của Đấng Phục Sinh được chiếu tỏa đến tận cùng trái đất. Amen.

[*].https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-29-04-thanh-catarina-thanh-siena-trinh-nutien-si-hoi-thanh-1347-1380-48731

Thứ Ba – Tuần 4 – Mùa Phục Sinh

Thứ Ba - Tuần VII - Mùa Phục Sinh

THUỘC VỀ ĐOÀN CHIÊN CỦA ĐẤNG PHỤC SINH

“Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi.” (Ga 10,28).

Cv 11,19-26; Ga 10,22-30

Lm. John Trần

Lời Chúa trong ngày Thứ Ba tuần IV Phục Sinh hôm nay cho chúng ta thấy: sự lan rộng của Tin Mừng đến dân ngoại và lời xác quyết mạnh mẽ của Chúa Giêsu về sự hiệp nhất giữa Ngài với những kẻ thuộc về Ngài.

Bài đọc I từ sách Công vụ Tông đồ thuật lại việc những tín hữu bị phân tán sau cuộc bách hại liên quan đến ông Têphanô. Thế nhưng, thay vì dập tắt đức tin, ngọn lửa bách hại lại vô tình thổi bùng Tin Mừng đi xa hơn, đến tận Phênixi, Sýp và Antiôkhia. Đặc biệt, tại Antiôkhia, lần đầu tiên các môn đệ được gọi là “Kitô hữu” (Cv 11,26).

Danh xưng này không chỉ là một cái tên để phân biệt, mà là một căn tính. Nó khẳng định rằng họ thuộc về Chúa Kitô, mang lấy lối sống và hơi thở của Đấng Phục Sinh. Như Barnaba đã khuyên nhủ các tín hữu mới: “Hãy bền lòng gắn bó cùng Chúa” (Cv 11,23).

Trong bài Tin Mừng, khi đứng dưới hành lang Salômôn, Chúa Giêsu một lần nữa đối diện với sự nghi ngờ của những người Do Thái. Ngài khẳng định: “Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi; Tôi biết chúng và chúng theo Tôi.” (Ga 10,27). Căn tính của một con chiên thật không nằm ở môi miệng, mà ở khả năng lắng nghe và hành động đi theo tiếng gọi của chủ.

Điều an ủi nhất cho chúng ta chính là lời hứa bảo đảm của Ngài: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi.” (Ga 10,28). Đây là niềm hy vọng Kitô giáo đích thực. Giữa một thế giới đầy biến động, nơi mà sự sống mong manh và những giá trị đạo đức dễ bị lung lay, chúng ta được đặt trong bàn tay quyền năng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu xác quyết sự hiệp nhất tuyệt đối: “Tôi và Chúa Cha là một.” (Ga 10,30). Sự an toàn của chúng ta không dựa trên sức riêng, nhưng dựa trên quyền năng của Đấng đã chiến thắng cái chết.

Là những “Kitô hữu” của thế kỷ 21, chúng ta được mời gọi rập khuôn cuộc đời mình theo mẫu gương của các tín hữu Antiôkhia năm xưa. “Gắn bó với Chúa” có nghĩa là không để bất cứ “kẻ trộm” nào – dù là sự lười biếng, tính ích kỷ hay những đam mê trần tục – cướp mất chúng ta khỏi vòng tay của Mục Tử Giêsu. Chúng ta chỉ thực sự an toàn và tìm được đồng cỏ xanh tươi khi chúng ta chấp nhận để Ngài làm chủ cuộc đời mình.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin cho chúng con luôn biết lắng nghe tiếng Chúa giữa những ồn ào của cuộc sống, để chúng con xứng đáng với danh hiệu Kitô hữu và mãi mãi thuộc về Chúa. Amen.