Lễ Truyền Tin – Ngày 25/3

Lễ Truyền Tin – Ngày 25/3

XIN VÂNG – CÁNH CỬA MỞ VÀO KỶ NGUYÊN HY VỌNG

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).

Is 7,10-14;8,10; Dt 10, 4-10; Lc 1, 26-38

Lm.John Trần

Hôm nay, Giáo hội hân hoan cử hành Lễ Truyền Tin. Trung tâm của ngày lễ này không chỉ là sứ điệp vinh quang từ trời, mà còn là hai lời “Xin Vâng”: lời “Xin Vâng” của Ngôi Hai Thiên Chúa và lời “Xin Vâng” của Đức Trinh Nữ Maria. Sự gặp gỡ của hai lời vâng phục này đã mở ra cánh cửa hy vọng cho toàn thế giới.

1. Lời Xin Vâng của Đức Kitô

Trong bài đọc II hôm nay, tác giả Thư gửi tín hữu Do Thái đã diễn tả tâm tình sâu xa của Chúa Giêsu khi bước vào trần gian. Ngài thưa với Chúa Cha: “Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích… Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,6.9).

Lời thưa này là một lời “Xin Vâng” tuyệt đối. Nó bộc lộ mục đích sống duy nhất của Con Một Thiên Chúa nơi trần thế: không phải để được phụng sự, mà là để hiến dâng. Ngài biết rằng những hy lễ chiên bò của Giao ước cũ (x. Dt 10,4) không thể xóa bỏ tội lỗi một cách triệt để. Chỉ có của lễ là chính mạng sống của Đấng vô tội, dâng tiến với trọn vẹn tình yêu và sự vâng phục, mới có thể giao hòa nhân loại với Thiên Chúa.

Tâm nguyện “Con đến để thực thi ý Ngài” chính là tâm điểm của chương trình cứu chuộc, nhằm tái lập tất cả những gì đã hư mất vì sự bất tuân của Adam và Eva (x. Is 7,14). Đức Kitô chính là A-đam Mới, Đấng dùng sự vâng phục của mình để chiến thắng sự kiêu ngạo và tội lỗi, mang lại sự sống đích thực cho con người. Trong Tông huấn Verbum Domini, Đức cố Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh: “Đức Kitô là Lời Vâng phục vĩnh cửu của Chúa Cha, Đấng đã mặc lấy bản tính nhân loại của chúng ta… để dẫn đưa nó trở về với Thiên Chúa” (ĐTC.Bênêđictô XVI, 2010).

2. Lời Xin Vâng của Maria: Sự cộng tác tự do và khiêm tốn

Tuy nhiên, chương trình cứu độ ấy, dù mạnh mẽ và huy hoàng đến đâu, vẫn cần một sự cộng tác nơi người. “Ngôi Lời, Đấng từ ban đầu ở cùng Thiên Chúa và là Thiên Chúa, tỏ mình ra trong cuộc đối thoại yêu thương giữa các Ngôi vị thần thánh, và mời gọi chúng ta chia sẻ tình yêu đó” (ĐTC.Bênêđictô XVI, Verbum Domini, 2010, số 6).

Vâng, Thiên Chúa, Đấng vô cùng tôn trọng tự do của con người, không muốn thực hiện ơn cứu độ một mình. Ngài tìm kiếm một sự cộng tác. Và Ngài đã tìm thấy ở Nazareth, nơi một Trinh Nữ khiêm hạ tên là Maria –  “Mẹ của Lời Thiên Chúa” và “Mẹ của Đức Tin”.

ĐTC.Bênêđictô XVI trong Tông huấn Verbum Domini viết: “Đức Trinh Nữ Maria, “người mà nhờ lời ‘vâng’ của mình đối với lời giao ước và sứ mệnh của mình, đã hoàn thành trọn vẹn ơn gọi thiêng liêng của nhân loại”. Thực tại con người được tạo dựng qua lời Chúa tìm thấy hình ảnh hoàn hảo nhất của mình trong đức tin vâng phục của Đức Maria. Từ Lễ Truyền Tin đến Lễ Ngũ Tuần, Mẹ hiện ra như một người phụ nữ hoàn toàn mở lòng với ý muốn của Chúa. Mẹ là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đấng mà Chúa đã làm cho “đầy ân sủng” (xem Lc 1:28) và vâng phục vô điều kiện lời Chúa (xem Lc 1:38). Đức tin vâng phục của Mẹ định hình cuộc sống của Mẹ trong từng khoảnh khắc trước kế hoạch của Chúa. Là một Trinh Nữ luôn chú tâm đến lời Chúa, Mẹ sống hoàn toàn hòa hợp với lời đó; Bà trân trọng trong lòng những sự kiện của Con trai mình, ghép chúng lại với nhau như thể thành một bức tranh khảm duy nhất (xem Lc 2:19,51). ” (x.ĐTC.Bênêđictô XVI, Verbum Domini, 2010, số27-28).

Nhớ lại Vườn Địa Đàng năm xưa vang lên lời loan báo về “người nữ” sẽ đạp nát đầu Con Rắn (x. Is 7,14). Maria chính là Eva Mới, người nữ được đầy ơn phúc, Đấng đã được tuyển chọn để cưu mang Đấng Mêsia.

Trong ngày Sứ thần truyền tin, sau giây phút bối rối trước sứ điệp lạ lùng (Lc 1,29), Đức Maria đã mau mắn đáp trả: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Đây là lời “Xin Vâng” của sự tự do đích thực. Đức Mẹ không bị ép buộc, nhưng Ngài đã ý thức chấp nhận cộng tác với Chúa Con trong chương trình cứu độ. Sự vâng phục của Mẹ là sự vâng phục của đức tin, của sự phó thác hoàn toàn vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa, Đấng mà “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37). Sự cộng tác của Mẹ không cản trở, không đòi Thiên Chúa phải làm theo ý riêng, mà là một sự ngoan ngoãn hoàn hảo.

3. Lời chất vấn cho thế hệ hôm nay

Lời “Xin Vâng” của Đức Mẹ Maria trở thành một mẫu mực tuân phục cho mỗi chúng ta. Tuy nhiên, nó cũng là một lời chất vấn mạnh mẽ trước thảm kịch bất tuân Thiên Chúa trong thời đại của chúng ta. Đôi khi, chúng ta sử dụng tự do không phải để thi hành ý Chúa, mà để phục vụ cho cái tôi ích kỷ, cho những đam mê tội lỗi.

Thế giới hôm nay vẫn còn đó những tiếng kêu than của những thai nhi vô tội bị giết hại (x. Is 8,10), những gia đình bị rạn nứt vì ngoại tình và ly dị, những tâm hồn bị tổn thương vì lời nói và hành động thiếu bác ái. Có những lúc chúng ta đã khước từ lời Thiên Chúa mời gọi cứu lấy bản thân mình khi lao vào con đường tội lụy. Lời Xin Vâng của Mẹ gọi chúng ta trở về với phẩm giá con người, phẩm giá là con cái Thiên Chúa.

Phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta bắt chước gương của Mẹ Maria: sống một lời “Xin Vâng” hàng ngày.

  • Xin Vâng trước những thử thách và biến cố đời thường, nhận ra ý Chúa qua Hội Thánh, qua những người phụ trách và qua tha nhân.
  • Xin Vâng sống đức tin kiên vững, biết “ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19).
  • Xin Vâng sống khiêm tốn, nhân từ, trong sạch, để ánh sáng Tin Mừng của Chúa Giêsu có thể chiếu tỏa qua đời sống của chúng ta, mang lại niềm vui, bình an và hy vọng cho những người xung quanh.

Ước gì mầu nhiệm Truyền Tin hôm nay đánh thức niềm vui, bình an và hy vọng Kitô giáo sâu xa nơi tâm hồn mỗi người. Lạy Mẹ Maria, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con luôn biết sống sao cho đẹp lòng Thiên Chúa. Để rồi, như Mẹ, chúng con cũng sẵn sàng thưa lên với Chúa mỗi ngày rằng: “Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”. Amen.

Thứ Ba Tuần V – Mùa Chay

Thứ Ba Tuần V - Mùa Chay

ĐỂ ĐƯỢC CHÚA Ở CÙNG

“Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu.” (Ga 8,28).

Ds 21,4-9; Ga 8,21-30

Lm.John Trần

Hôm nay, giữa Tuần V Mùa Chay, khi chúng ta đang tiến gần đến cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, Lời Chúa mang đến cho chúng ta một sứ điệp đầy ý nghĩa: Thập Giá không phải là sự thất bại, mà là đài vinh quang nơi Thiên Chúa bày tỏ tình yêu trọn vẹn và sự hiện diện không ngừng nghỉ của Ngài. Sứ điệp ấy được vang vọng qua câu chuyện con rắn đồng trong Cựu Ước (Ds 21,4-9) và cuộc tranh luận của Chúa Giêsu với người Do Thái trong Tin Mừng (Ga 8,21-30).

Trong bài đọc I, sách Dân Số (Ds 21) kể lại câu chuyện về dân It-ra-en trong sa mạc. Vì kiệt sức và chán nản, họ đã kêu trách Thiên Chúa và ông Mô-sê. Hình phạt là những con rắn lửa xuất hiện, cắn chết nhiều người. Trước sự hối lỗi của dân, Thiên Chúa đã truyền cho ông Mô-sê đúc một con rắn đồng và treo lên cây cột. Bất cứ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng thì được sống (Ds 21,9).

Con rắn đồng ấy chính là hình ảnh tiền báo về Chúa Giêsu trên Thập Giá. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh này để giải thích cho ông Ni-cô-đê-mô: “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” (Ga 3,14-15). Thập Giá không phải là sự trừng phạt, mà là nguồn sự sống cho những ai biết nhìn lên với đức tin.

Trong Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tuyên bố một chân lý đảo lộn mọi định luật tự nhiên: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu.” (Ga 8,28). Đây là một lời khẳng định đầy quyền năng về danh tánh của Ngài: Ngài là Thiên Chúa, Ngài không thuộc về thế gian (Ga 8,23).

Người Do Thái, trong sự mù quáng, đã coi Thập Giá như là sự thất bại nặng nề của Chúa Giêsu. Họ bực tức khi Ngài gọi Thiên Chúa là Cha và quyết định đóng đinh Ngài (Ga 8,28). Nhưng ngược lại, Chúa Giêsu đã biến Thập Giá thành một đài vinh quang, là nơi tỏ lộ cho mọi người quyền năng, tình thương và danh tánh của Thiên Chúa.

Tình yêu trọn vẹn và không bao giờ bỏ cuộc đối với con người, một tình yêu cho đến cùng, chỉ thật sự thấy được khi Chúa Giêsu bị treo lên (x. Ga 13,1). Tình yêu này cũng chính là tình yêu mà Chúa Cha dành cho Chúa Giêsu. Chúa Giêsu khẳng định rằng: “Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người.” (Ga 8,29).

Từ lời khẳng định này, chúng ta cũng rút ra cho chúng ta một công thức đơn giản nhưng rất khó thực hiện: nếu ta muốn Thiên Chúa không để ta cô độc, thì ta phải hằng làm những điều đẹp ý Người.

Quả thực muốn làm những điều đẹp ý Thiên Chúa thì vô cùng khó, bởi chúng ta vẫn cố tình làm theo ý của mình hơn làm theo Thánh ý Chúa. Chúng ta vẫn luôn muốn bày tỏ cái tôi của mình hơn là nhìn nhận sự yếu kém của mình trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, để được Thiên Chúa luôn ban ơn cho chúng ta, tôi mời gọi anh chị em:

  • Cầu xin Chúa cho chúng ta biết đón nhận mọi sự dưới sự dẫn dắt của Chúa, cho dù gặp thất bại, rủi ro hay lúc ta vấp ngã.
  • Cầu xin cho mọi người biết mau mắn đáp lại lời mời gọi đặt niềm tin vào Chúa Giêsu, bằng chính cuộc sống phó thác của mình.

Xin Đức Maria cầu thay nguyện giúp cho chúng con luôn biết sống sao cho đẹp lòng Thiên Chúa, để chúng con có thể trung thành và tin tưởng rằng “Thiên Chúa không bỏ ai một mình vì họ đã làm mọi sự đẹp lòng Chúa”. Amen.

Thứ Hai Tuần V – Mùa Chay

Thứ Hai Tuần V - Mùa Chay

Thiên Chúa Thương Xót và tha thứ

“Ai trong các ông sạch tội, thì hãy ném đá chị này trước đi.” (Ga 8:7).

Đn 13,1-9.15-17.19-30.33-62; (Đn 13,41c-62); Ga 8,1-11

Lm.John Trần

Hôm nay,  Lời Chúa vang vọng như một bài ca khải hoàn về tình yêu, nơi lòng thương xót Chúa chiến thắng sự ác và sự kết án vội vã. Chúng ta đang tiến gần đến cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, và sứ điệp hôm nay bừng sáng niềm hy vọng về sự hoán cải, về Lòng Thương Xót.

Bài đọc I trích từ sách Tiên tri Đa-ni-en (Đn 13) kể lại câu chuyện đầy kịch tính về bà Su-sân-na, một người phụ nữ đạo hạnh bị hai trưởng lão gian ác vu oan ngoại tình vì bà đã cự tuyệt sự dâm ô của họ. Giữa âm mưu đen tối và bản án tử hình lơ lửng, bà Su-sân-na chỉ biết kêu cầu Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa hằng hữu, Đấng thấu suốt những điều bí ẩn và biết mọi sự trước khi xảy ra!” (Đn 13:42).

Thiên Chúa đã nghe tiếng bà. Ngài đánh động tâm hồn cậu bé Đa-ni-en, ban cho cậu đức khôn ngoan để phân xử công minh. Qua việc tách riêng và chất vấn từng trưởng lão, Đa-ni-en đã phơi bày sự dối trá của họ. Công lý tỏa sáng, bà Su-sân-na được cứu thoát, còn những kẻ ác giả phải chịu hình phạt thích đáng (Đn 13:62). Câu chuyện là minh chứng hùng hồn: Thiên Chúa là Đấng Bảo Vệ những kẻ vô tội bị áp bức.

Tuy nhiên, đỉnh cao của Lời Chúa hôm nay nằm ở Bài Tin Mừng theo Thánh Gioan (Ga 8:1-11). Các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước Chúa Giêsu một người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình. Họ viện dẫn luật Mô-sê đòi ném đá bà, nhưng mục đích thực sự là để gài bẫy Chúa.

Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp. Ngài cúi xuống viết trên đất. Khi họ cứ hỏi mãi, Ngài ngẩng lên và phán một câu định mệnh: “Ai trong các ông sạch tội, thì hãy ném đá chị này trước đi.” (Ga 8:7). Lời nói ấy như một tấm gương phản chiếu, buộc mỗi người phải nhìn lại chính lòng mình. Một sự im lặng bao trùm. Từng người một, bắt đầu từ những người lớn tuổi, rút lui, vì họ nhận ra mình cũng là kẻ có tội.

Trong Catena Aurea, Thánh Tôma Aquinô đã trích dẫn Thánh Âu-gút-ti-nô để chú giải về chi tiết Chúa viết trên đất rằng Ngài làm thế để dạy chúng ta sự khiêm nhường: “Chúa viết trên đất để chúng ta xem xét chính mình trước khi phán xét người khác; vì luật cũ khắc nghiệt trên đá, luật mới dịu dàng trên đất” (St. Thomas Aquinas, Catena Aurea, 2018- https://www.ecatholic2000.com/catena/untitled-96.shtml).

Cuối cùng, chỉ còn lại Chúa Giêsu và người phụ nữ. Với ánh mắt đầy bao dung, Ngài phán: “Tôi cũng không kết án chị đâu. Thôi chị cứ về, và từ nay đừng phạm tội nữa.” (Ga 8:11). Lòng thương xót không dung túng tội, nhưng dung thứ tội nhân và ban cho họ cơ hội để hoán cải.

Hai câu chuyện hôm nay nối liền một vòng tròn ý nghĩa: một bên là kẻ vô tội bị kết án oan (Su-sân-na) được Thiên Chúa giải thoát, và một bên là kẻ có tội (người phụ nữ) được Con Thiên Chúa xót thương tha thứ. Thánh Âu-gút-ti-nô, trong Tractate 33 về Tin Mừng Gioan, đã diễn tả: “Giọng nói của Chúa là công lý: Kẻ tội lỗi phải bị phạt, nhưng không phải bởi kẻ tội lỗi khác. Mỗi người hãy xét mình trước!” (St. Augustine, Tractate 33, 2020).

Mùa Chay là thời gian đặc biệt để chúng ta thống hối, để ánh sáng Lời Chúa soi sáng những bóng tối tội lỗi trong tâm hồn chúng ta. Đừng vội kết án anh chị em, mà hãy cầu xin ơn phân biệt và ơn tha thứ cho chính mình.

Giữa bóng tối của Tuần Chay, Lời Chúa qua bà Su-sân-na và người phụ nữ ngoại tình khơi dậy trong chúng ta ngọn lửa của Lòng Thương Xót Chúa – nguồn hy vọng duy nhất cho sự hoán cải và sự sống đời đời. Thánh Thể chính là nguồn lực để chúng ta sống lòng thương xót ấy.

Xin Đức Maria cầu thay nguyện giúp cho chúng con luôn biết sống sao cho đẹp lòng Thiên Chúa, để sau này được cùng Mẹ hưởng vinh quang trên trời. Amen.

Chúa Nhật thứ V Mùa Chay – Năm A

Chúa Nhật thứ V Mùa Chay – Năm A

HÃY RA KHỎI MỒ

“Anh Lagiarô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43).

Ed 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 11,1-45 (Ga 11,3-7.17.20-27.33b-45)

Linh mục John Trần

Sống trên đời, ai cũng phải đối diện với cái chết. Đó là một thực tế phũ phàng gây nên tang tóc, chia lìa và nỗi thất vọng khôn cùng. Thế nhưng, sứ điệp Tin Mừng hôm nay không dừng lại ở tiếng khóc của Martha hay Maria, cũng không dừng lại ở ngôi mộ đá lạnh lẽo của Lagiarô. Nó mở ra một chân trời mới: Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của sự sống.

1.   Lời hứa đầy hy vọng của Thiên Chúa

Mở đầu Sứ điệp Mùa Chay năm 2024, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói rằng: “Khi Thiên Chúa chúng ta mặc khải chính Ngài, sứ điệp của Ngài luôn luôn là một sứ điệp về sự tự do: “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai cập, ra khỏi nhà nô lệ” (Xh 20,2). Đó là những lời đầu tiên của Thập Giới được ban cho Môsê trên Núi Sinai” (x.ĐTC.Phanxicô, 2024).

Ngay từ bài đọc I, Tiên tri Êdêkiên đã loan báo một thị kiến đầy hy vọng: “Ta sẽ mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt… và các ngươi sẽ biết Ta là Đức Chúa.” (Ed 37,12-13). Đây không chỉ là lời hứa phục hồi quốc gia It-ra-en về mặt chính trị, mà là một mặc khải thần học sâu sắc: Thiên Chúa có quyền năng trên cái chết. Ngài không để con người mục nát trong bụi đất. Ngài hứa ban Thần Khí để chúng ta được sống (x.Ed 37,14).

Sự sống mà Thiên Chúa hứa ban không chỉ là sự tồn tại sinh học. Đó là sự thông phần vào chính sự sống của Ngài. Thiên Chúa không dựng nên chúng ta cho nấm mộ, Ngài dựng nên chúng ta cho sự sống, một sự sống đẹp đẽ, tốt lành và vĩnh cửu. “Thánh Phao-lô quả quyết : “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội”. Thiên Chúa ban ân sủng để vạch trần tội lỗi nhằm hoán cải lòng ta và “làm cho ta nên công chính, để được sống đời đời nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta” (Rm 5,20-21)” (GLHTCG, số 1848).

2.   Lagiarô – hình ảnh của mỗi chúng ta

Tin Mừng Gioan thuật lại việc Chúa Giêsu cho Lagiarô sống lại sau bốn ngày trong mộ (x.Ga 11,39). Con số bốn ngày rất quan trọng; theo quan niệm Do Thái thời bấy giờ, sau ba ngày, linh hồn đã hoàn toàn lìa khỏi xác và thân xác bắt đầu tan rữa. Khi Chúa Giêsu đến, hy vọng của con người đã tắt ngấm. Martha nói: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây, em con đã không chết.” (Ga 11,21).

Nhưng chính trong sự bất lực, tuyệt vọng của con người, quyền năng Thiên Chúa lại tỏ hiện rạng ngời nhất. Chúa Giêsu tuyên bố một chân lý đảo lộn mọi định luật tự nhiên: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25). Trong Bài giảng ngày 6 tháng 4 năm 2014, tại Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh rằng:  “Với lời này của Chúa, chúng ta tin rằng đời sống của bất cứ ai tin vào Chúa Giê-su và tuân giữ giới răn của Ngài sau khi chết sẽ được biến đổi thành đời sống mới, trọn vẹn và bất tử” (ĐTC.Phanxicô, 2014).

Thưa anh chị em, Lagiarô không chỉ là một nhân vật lịch sử. Anh là hình ảnh của mỗi chúng ta. Có những lúc, chúng ta đang sống mà như đã chết. Chúng ta bị chôn vùi trong những nấm mộ của tội lỗi, kiêu ngạo, của sự ích kỷ, của nỗi tuyệt vọng, hay của những đam mê bất chính. Có những nấm mộ mang tên “hận thù” khiến tâm hồn ta lạnh lẽo. Có những nấm mộ mang tên “vô cảm” khiến ta chẳng còn nghe thấy tiếng khóc của anh em. Chúng ta tự xây quanh mình những tảng đá ngăn cách ta với ân sủng Chúa.

3.    Cởi bỏ con người cũ và sống theo Thần Khí

Sau khi gọi Lagiarô ra, Chúa Giêsu nói với những người xung quanh: “Cởi giẻ cho anh ấy đi, và để anh ấy đi.” (Ga 11,44). Đây là một chi tiết khá độc đáo. Chúa làm phép lạ cho sống lại, nhưng Ngài muốn con người cộng tác để đem lại tự do hoàn toàn cho người anh em. Điều này gợi lên cho ta suy nghĩ: Chúng ta có đang trói buộc ai đó bằng những định kiến, bằng sự xét đoán khắt khe không? Chúng ta có đang đẩy anh chị em mình vào nấm mộ của sự cô đơn bằng sự thờ ơ của mình không?

Trong Sứ điệp Mùa Chay năm 2024, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắn nhủ rằng: “Mùa Chay là mùa của hoán cải và tự do. Thiên Chúa không muốn những nô lệ hay thần dân như Pharaon, nhưng muốn chúng ta là những người con, con trai, con gái của Ngài” (x.ĐTC.Phanxicô, 2024). Chúng ta được gọi để giúp nhau tháo cởi những “giẻ bao” của mặc cảm, của nghèo đói, của thất học, để mọi người được sống xứng đáng với phẩm giá con người, làm con cái của Chúa.

Thánh Phaolô trong bài đọc II nhắc nhở chúng ta: “Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa. Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối.” (Rm 8,8-9).

Cái chết thực sự không phải là khi hơi thở ngừng lại, mà là khi ta tách lìa khỏi nguồn sống là Thiên Chúa. Tội lỗi chính là tác nhân gây nên cái chết tâm linh này. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy: “Tội lỗi là một hành vi trái ngược với lý trí… Nó xúc phạm đến Thiên Chúa và làm tổn thương bản chất con người… Như thế, tội là “yêu mình đến mức khinh thị Thiên Chúa”( T.Augustinô14,28). Vì kiêu căng tự cao tự đại, tội hoàn toàn trái ngược với thái độ vâng phục của Đức Giê-su, Đấng thực hiện ơn cứu độ (x. Pl 2,6-9).” (x.GLHTCG, số 1849-1850). Khi phạm tội trọng, chúng ta tự giam mình vào nấm mộ, nơi không có ánh sáng, không có hy vọng.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không đến để kết án kẻ nằm trong mộ. Ngài đến để khóc thương họ (Ga 11,35) và để gọi họ ra: “Anh Lagiarô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43). Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích lời kêu gọi này của Chúa rằng: “Chúa Kitô không cam chịu với những ngôi mộ mà chúng ta tự xây cho mình bằng sự lựa chọn điều ác và sự chết, bằng những sai lầm, bằng tội lỗi của chúng ta. Ngài không cam chịu điều đó! Ngài mời gọi chúng ta, gần như ra lệnh cho chúng ta, hãy ra khỏi ngôi mộ mà tội lỗi đã chôn vùi chúng ta. Ngài tha thiết kêu gọi chúng ta hãy ra khỏi bóng tối của nhà tù mà chúng ta đang bị giam cầm, bằng lòng với một cuộc sống giả dối, ích kỷ và tầm thường. “Hãy ra!”, Ngài nói với chúng ta, “Hãy ra!”” (ĐTC.Phanxicô, 2014).

“Anh Lagiarô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43).  Tiếng gọi ấy vẫn đang vang lên trong tâm hồn mỗi người chúng ta hôm nay, đặc biệt là qua bí tích Giải tội. Một người bước vào tòa giải tội với tâm hồn tan nát vì tội lỗi, nhưng khi bước ra, họ được phục sinh trong ân sủng. Đó chính là phép lạ Lagiarô đang diễn ra giữa thời đại này.

Phép lạ cho Lagiarô sống lại là tiền đề cho cuộc Phục sinh của chính Chúa Giêsu. Khác với Lagiarô sống lại rồi sẽ lại chết, Chúa Giêsu phục sinh để sống đời đời, và Ngài kéo chúng ta theo Ngài.

Phép lạ cho Lagiarô sống lại để chúng ta càng tin hơn vào quyền năng và lòng thương xót của Chúa, đặt biệt trên con người phải chết vì tội lỗi của chúng ta, để chúng ta xác tín như lời của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Lòng thương xót của Chúa dành cho mọi người là vô hạn!”. Chúa luôn sẵn sàng cất bỏ bia mộ tội lỗi của chúng ta, điều ngăn cách chúng ta với Ngài, ánh sáng của sự sống.” (ĐTC.Phanxicô, 2014).

Tuy vậy, niềm tin vào sự sống lại không phải là một liều thuốc an thần để quên đi nỗi đau trần thế, nhưng là một động lực để sống dấn thân. Nếu chúng ta tin rằng thân xác này sẽ sống lại, chúng ta phải tôn trọng thân xác mình và của tha nhân. Nếu chúng ta tin rằng sự sống là vĩnh cửu, chúng ta không được phép lãng phí thời gian vào những điều phù phiếm, tội lỗi.

Mùa Chay này, mỗi người hãy tự hỏi lòng mình:

  • Tôi có đang bị giam cầm trong ngôi mộ nào không? (Kiêu ngạo, dâm ô, gian tham…?)
  • Tôi có dám nghe tiếng Chúa gọi để bước ra khỏi vùng an toàn của tội lỗi không?
  • Tôi có sẵn lòng giúp anh chị em mình tháo cởi những xiềng xích đang trói buộc họ không?

Nguyện xin Chúa Thánh Thần, Đấng đã làm cho Đức Kitô từ cõi chết sống lại, cũng biến đổi tâm hồn chúng ta. Xin cho chúng ta biết bám chặt vào lời tuyên xưng của Martha: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.” (Ga 11,27). Khi có Chúa, nấm mộ không còn là điểm kết thúc, mà là cửa ngõ dẫn vào vinh quang.

Chúc anh chị em tìm thấy niềm vui phục sinh ngay trong nỗ lực hoán cải của những ngày cuối Mùa Chay này.

Amen.


Tài liệu tham khảo

·  ĐTC.Phanxicô. (2014, 06 tháng 4). Bài huấn dụ trong buổi đọc kinh Truyền Tin tại Quảng trường Thánh Phêrô (Chúa Nhật V Mùa Chay A). Truy cập tại: https://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2014/documents/papa-francesco_angelus_20140406.html

·  ĐTC.Phanxicô. (2024). Sứ điệp Mùa Chay 2024: Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta băng qua sa mạc đến tự do. Truy cập tại: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-mua-chay-2024-cua-duc-thanh-cha-phanxico-5464

Thứ Bảy Tuần IV – Mùa Chay

Thứ Bảy Tuần V – Mùa Chay

CHÚA GIÊSU LÀ AI

“Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi”

Gr 11,18-20 ; Ga 7,40-53

Lm.John Trần

Chúa Giêsu là ai? Đó là câu hỏi đặt cho tất cả mọi người. Từ thời Chúa Giêsu, người ta nói, người ta bàn tán rất nhiều về Ngài với những ý kiến trái chiều, có những người bênh vực Chúa, nhưng cũng không thiếu những người ngăn cản người ta tuyên xưng Chúa, điều này thất rõ trong Tin mừng hôm nay ta tạm liệt kê bốn nhóm người khác nhau:

Nhóm thứ nhất đối lại với Chúa Giêsu, luôn chống lại và tìm cách giết Chúa, họ là những nhà lãnh đạo dân chúng, có ảnh hưởng nhiều trên dân của họ, họ coi Chúa là cái gai cần nhổ đi.

Nhóm thứ hai là dân chúng, khi bàn về Đức Giêsu, nhiều người nói thế này, Những kẻ khác lại nói thế kia, họ bàn rằng “Ông này thật là vị ngôn sứ.” Kẻ khác rằng: “Ông này là Đấng Ki-tô.” Nhưng có kẻ lại nói: “Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao? Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đavít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao?” Vậy, vì Ngài mà những người này đã tự chia rẽ, mất sự hiệp nhất.

Nhóm thứ ba là những người lính, chính các vệ binh có nhiệm vụ giữ an ninh trật tự công cộng này, tuy ít học, nhưng đã có những suy nghĩ rất chính xác và rất rõ nét như một lời ca ngợi: “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy”, nhưng vì câu nói tốt cho Chúa này đã làm ảnh hưởng đến các kẻ chống đối Chúa, thế nên họ bị trách tàn tệ:  “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? Trong hàng thủ lãnh và giới tri thức biệt phái có ai tin vào tên ấy đâu ? Chỉ có bọn hạ lưu cặn bã như các anh mới phạm sai lầm xét đoán như thế thôi“.

Nhóm thứ tư, đại diện là một người trong nhóm PhariSiêu, tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su ; ông nói với họ về lề luật, lề luật phải thực thi chính xác với Chúa là Đấng vô tội,  và cái phản ứng nhút nhát, rụt rè của Nicôđêmô cũng bị những kẻ chối Chúa dập tắt: “Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao ? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy : không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả.

Phần chúng ta, ta thuộc nhóm người nào, và nếu được hỏi Chúa Giêsu là ai, ta sẽ trả lời sao? đối với tôi, Giêsu sẽ là Đấng để tôi chạy tới xin ơn? Là Đấng nhân từ luôn thông cảm tha thứ? Là người rắc rối hay đặt vấn đề cho lương tâm tôi? Hay là Đấng mà tôi phải trung thành đi theo suốt đời tôi?