Lễ Truyền Tin – Ngày 25/3

Lễ Truyền Tin – Ngày 25/3

XIN VÂNG – CÁNH CỬA MỞ VÀO KỶ NGUYÊN HY VỌNG

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).

Is 7,10-14;8,10; Dt 10, 4-10; Lc 1, 26-38

Lm.John Trần

Hôm nay, Giáo hội hân hoan cử hành Lễ Truyền Tin. Trung tâm của ngày lễ này không chỉ là sứ điệp vinh quang từ trời, mà còn là hai lời “Xin Vâng”: lời “Xin Vâng” của Ngôi Hai Thiên Chúa và lời “Xin Vâng” của Đức Trinh Nữ Maria. Sự gặp gỡ của hai lời vâng phục này đã mở ra cánh cửa hy vọng cho toàn thế giới.

1. Lời Xin Vâng của Đức Kitô

Trong bài đọc II hôm nay, tác giả Thư gửi tín hữu Do Thái đã diễn tả tâm tình sâu xa của Chúa Giêsu khi bước vào trần gian. Ngài thưa với Chúa Cha: “Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích… Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,6.9).

Lời thưa này là một lời “Xin Vâng” tuyệt đối. Nó bộc lộ mục đích sống duy nhất của Con Một Thiên Chúa nơi trần thế: không phải để được phụng sự, mà là để hiến dâng. Ngài biết rằng những hy lễ chiên bò của Giao ước cũ (x. Dt 10,4) không thể xóa bỏ tội lỗi một cách triệt để. Chỉ có của lễ là chính mạng sống của Đấng vô tội, dâng tiến với trọn vẹn tình yêu và sự vâng phục, mới có thể giao hòa nhân loại với Thiên Chúa.

Tâm nguyện “Con đến để thực thi ý Ngài” chính là tâm điểm của chương trình cứu chuộc, nhằm tái lập tất cả những gì đã hư mất vì sự bất tuân của Adam và Eva (x. Is 7,14). Đức Kitô chính là A-đam Mới, Đấng dùng sự vâng phục của mình để chiến thắng sự kiêu ngạo và tội lỗi, mang lại sự sống đích thực cho con người. Trong Tông huấn Verbum Domini, Đức cố Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh: “Đức Kitô là Lời Vâng phục vĩnh cửu của Chúa Cha, Đấng đã mặc lấy bản tính nhân loại của chúng ta… để dẫn đưa nó trở về với Thiên Chúa” (ĐTC.Bênêđictô XVI, 2010).

2. Lời Xin Vâng của Maria: Sự cộng tác tự do và khiêm tốn

Tuy nhiên, chương trình cứu độ ấy, dù mạnh mẽ và huy hoàng đến đâu, vẫn cần một sự cộng tác nơi người. “Ngôi Lời, Đấng từ ban đầu ở cùng Thiên Chúa và là Thiên Chúa, tỏ mình ra trong cuộc đối thoại yêu thương giữa các Ngôi vị thần thánh, và mời gọi chúng ta chia sẻ tình yêu đó” (ĐTC.Bênêđictô XVI, Verbum Domini, 2010, số 6).

Vâng, Thiên Chúa, Đấng vô cùng tôn trọng tự do của con người, không muốn thực hiện ơn cứu độ một mình. Ngài tìm kiếm một sự cộng tác. Và Ngài đã tìm thấy ở Nazareth, nơi một Trinh Nữ khiêm hạ tên là Maria –  “Mẹ của Lời Thiên Chúa” và “Mẹ của Đức Tin”.

ĐTC.Bênêđictô XVI trong Tông huấn Verbum Domini viết: “Đức Trinh Nữ Maria, “người mà nhờ lời ‘vâng’ của mình đối với lời giao ước và sứ mệnh của mình, đã hoàn thành trọn vẹn ơn gọi thiêng liêng của nhân loại”. Thực tại con người được tạo dựng qua lời Chúa tìm thấy hình ảnh hoàn hảo nhất của mình trong đức tin vâng phục của Đức Maria. Từ Lễ Truyền Tin đến Lễ Ngũ Tuần, Mẹ hiện ra như một người phụ nữ hoàn toàn mở lòng với ý muốn của Chúa. Mẹ là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đấng mà Chúa đã làm cho “đầy ân sủng” (xem Lc 1:28) và vâng phục vô điều kiện lời Chúa (xem Lc 1:38). Đức tin vâng phục của Mẹ định hình cuộc sống của Mẹ trong từng khoảnh khắc trước kế hoạch của Chúa. Là một Trinh Nữ luôn chú tâm đến lời Chúa, Mẹ sống hoàn toàn hòa hợp với lời đó; Bà trân trọng trong lòng những sự kiện của Con trai mình, ghép chúng lại với nhau như thể thành một bức tranh khảm duy nhất (xem Lc 2:19,51). ” (x.ĐTC.Bênêđictô XVI, Verbum Domini, 2010, số27-28).

Nhớ lại Vườn Địa Đàng năm xưa vang lên lời loan báo về “người nữ” sẽ đạp nát đầu Con Rắn (x. Is 7,14). Maria chính là Eva Mới, người nữ được đầy ơn phúc, Đấng đã được tuyển chọn để cưu mang Đấng Mêsia.

Trong ngày Sứ thần truyền tin, sau giây phút bối rối trước sứ điệp lạ lùng (Lc 1,29), Đức Maria đã mau mắn đáp trả: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Đây là lời “Xin Vâng” của sự tự do đích thực. Đức Mẹ không bị ép buộc, nhưng Ngài đã ý thức chấp nhận cộng tác với Chúa Con trong chương trình cứu độ. Sự vâng phục của Mẹ là sự vâng phục của đức tin, của sự phó thác hoàn toàn vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa, Đấng mà “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37). Sự cộng tác của Mẹ không cản trở, không đòi Thiên Chúa phải làm theo ý riêng, mà là một sự ngoan ngoãn hoàn hảo.

3. Lời chất vấn cho thế hệ hôm nay

Lời “Xin Vâng” của Đức Mẹ Maria trở thành một mẫu mực tuân phục cho mỗi chúng ta. Tuy nhiên, nó cũng là một lời chất vấn mạnh mẽ trước thảm kịch bất tuân Thiên Chúa trong thời đại của chúng ta. Đôi khi, chúng ta sử dụng tự do không phải để thi hành ý Chúa, mà để phục vụ cho cái tôi ích kỷ, cho những đam mê tội lỗi.

Thế giới hôm nay vẫn còn đó những tiếng kêu than của những thai nhi vô tội bị giết hại (x. Is 8,10), những gia đình bị rạn nứt vì ngoại tình và ly dị, những tâm hồn bị tổn thương vì lời nói và hành động thiếu bác ái. Có những lúc chúng ta đã khước từ lời Thiên Chúa mời gọi cứu lấy bản thân mình khi lao vào con đường tội lụy. Lời Xin Vâng của Mẹ gọi chúng ta trở về với phẩm giá con người, phẩm giá là con cái Thiên Chúa.

Phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta bắt chước gương của Mẹ Maria: sống một lời “Xin Vâng” hàng ngày.

  • Xin Vâng trước những thử thách và biến cố đời thường, nhận ra ý Chúa qua Hội Thánh, qua những người phụ trách và qua tha nhân.
  • Xin Vâng sống đức tin kiên vững, biết “ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19).
  • Xin Vâng sống khiêm tốn, nhân từ, trong sạch, để ánh sáng Tin Mừng của Chúa Giêsu có thể chiếu tỏa qua đời sống của chúng ta, mang lại niềm vui, bình an và hy vọng cho những người xung quanh.

Ước gì mầu nhiệm Truyền Tin hôm nay đánh thức niềm vui, bình an và hy vọng Kitô giáo sâu xa nơi tâm hồn mỗi người. Lạy Mẹ Maria, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con luôn biết sống sao cho đẹp lòng Thiên Chúa. Để rồi, như Mẹ, chúng con cũng sẵn sàng thưa lên với Chúa mỗi ngày rằng: “Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”. Amen.

Thánh Giuse Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria (19/3)

Thánh Giuse Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria (19/3)

Thánh Giuse – Người canh giữ mầm sống và đức tin của Gia đình Chúa

“Ông Gia-cóp sinh ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô”( Mt 1,16)

2Sm 7,4-5a.12-14a.16; Rm 4,13.16-18.22; Mt 1,16.18-21.24a; (Lc 2,41-51a)

Lm.Gioan Trần

Hôm nay, toàn thể Giáo hội hân hoan mừng kính trọng thể lễ Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ Maria. Trong bầu khí linh thiêng của ngày Lễ Trọng, và đặc biệt trong Thánh lễ cầu cho giáo dân (Lễ Họ) này, chúng ta cùng chiêm ngắm chân dung một người đàn ông thầm lặng nhưng vĩ đại, một người tôi tớ trung tín mà Thiên Chúa đã tin tưởng trao phó kho tàng quý giá nhất của Ngài: Chúa Giê-su Kitô và Đức Maria.

1. Thánh Giuse trong lịch sử cứu độ

Lịch sử cứu độ là một dòng chảy của những lời hứa. Trong bài đọc I, chúng ta nghe lời sấm của ngôn sứ Na-than nói với vua Đa-vít: “Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi -một người do chính ngươi sinh ra-, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền. Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi” (2Sm 7,12-13). Lời hứa ấy tưởng chừng như bị đứt đoạn qua những thăng trầm của lịch sử Do Thái, nhưng thực ra, nó đang âm thầm thực hiện ngang qua sự cộng tác của một bác thợ mộc tại làng Na-da-rét, đó là Thánh Giuse

Tin Mừng thánh Mát-thêu mở đầu bằng gia phả, khẳng định Giuse thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Tuy nhiên, kèm theo đó là trách nhiệm bảo vệ Đấng là “Vua các vua”. Thiên Chúa gọi Giuse không phải để cai trị, mà để làm cha – “người cha trong bóng tối”, để che chở cho mầm sống cứu độ đang thành hình, đúng như: “là người quản gia trung tín và khôn ngoan, Chúa đã đặt lên coi sóc gia đình Chúa”. Và “trong mối quan hệ với Chúa Giêsu, Giuse là cái bóng trần gian của Cha trên trời: ông trông nom và bảo vệ Ngài, không bao giờ bỏ mặc Ngài đi theo con đường riêng của mình” (Đức Thánh Cha Phanxicô, 2020, Patris Corde).

Thánh Phaolô VI cũng đã chỉ ra rằng Giuse đã thể hiện cụ thể vai trò làm cha của mình “bằng cách biến cuộc đời mình thành một sự phục vụ hy sinh cho mầu nhiệm nhập thể và mục đích cứu chuộc của nó. Ngài đã sử dụng quyền lực pháp lý của mình đối với Thánh Gia để cống hiến trọn vẹn cho họ trong cuộc sống và công việc của mình. Ngài đã biến ơn gọi con người của mình đối với tình yêu gia đình thành một sự hiến dâng siêu phàm của chính mình, trái tim và tất cả khả năng của mình, một tình yêu được đặt vào phục vụ Đấng Mê-si-a, người đang trưởng thành trong gia đình Ngài”(Thánh Phaolô VI , Bài giảng (19-03-1966): Insegnamenti di Paolo VI , IV (1966), 110).

2. Người Công chính sống niềm tin

Thánh Kinh gọi Giuse là “người công chính”. Sự công chính của ngài không chỉ dừng lại ở việc tuân giữ lề luật, mà cao siêu hơn, đó là sự công chính của đức tin – một đức tin giống như tổ phụ Á-bra-ham mà bài đọc II đã nhắc tới: “Mặc dầu không còn hy vọng, ông vẫn tin và hy vọng, vì thế ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc” (Rm 4,18).

Hãy đặt mình vào vị trí của thánh Giuse trong đêm được báo mộng ấy. Những ngày mà Ngài đứng trước một mầu nhiệm vượt quá trí hiểu: Bạn mình mang thai mà không do mình. Trong sự bàng hoàng, Giuse không chọn cách tố cáo hay sỉ nhục, ngài chọn cách “định tâm lìa bỏ cách kín đáo” (Mt 1,19). Đó là sự tế nhị của một tâm hồn đầy yêu thương, bác ái. Nhưng chính lúc đó, Thiên Chúa đã can thiệp qua giấc mơ.

Tiếng mời gọi “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về” (Mt 1,20) là một lời mời gọi bước vào bóng tối của đức tin. Giuse đã tin vào lời thiên sứ hơn là tin vào sự suy luận của giác quan mình. Sự công chính của Giuse là sự vâng phục tuyệt đối: Ngài không hỏi một lời, không đòi một dấu lạ, ngài chỉ “chỗi dậy và làm như sứ thần Chúa truyền” (Mt 1,24).

Trong Tông huấn Redemptoris Custos (Người Gìn Giữ Đấng Cứu Thế), Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định sự vâng phục của đức tin nơi Giuse cũng tương tự như sự vâng phục của Maria, Giuse đã đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa bằng một lời ‘xin vâng’ thầm lặng nhưng quyết liệt : “đức tin của Đức Mẹ Maria gặp gỡ đức tin của Thánh Giuse. Nếu bà Elizabeth đã nói về Mẹ của Đấng Cứu Thế rằng: “Phúc thay người đã tin”, thì theo một nghĩa nào đó, sự phúc lành này cũng có thể áp dụng cho Thánh Giuse, vì ngài đã đáp lại lời Chúa một cách tích cực khi lời ấy được truyền đạt cho ngài vào thời điểm quyết định. Mặc dù đúng là Thánh Giuse đã không đáp lại “lời loan báo” của thiên thần theo cách giống như Đức Mẹ Maria, nhưng ngài “đã làm theo lời thiên thần của Chúa truyền dạy và cưới vợ mình”. Điều ngài đã làm chính là sự “vâng phục đức tin” rõ ràng nhất (xem Rôma 1:5; 16:26; 2 Cô-rinh-tô 10:5-6)” (ĐTC.Gioan Phaolô II, 1989, RC số 4).

3. Sự hiện diện âm thầm – Bài học cho các gia đình Công giáo

Thánh Giuse không để lại một lời nói nào trong Kinh Thánh. Ngài là “vị thánh của sự thầm lặng”. Nhưng sự thầm lặng của ngài đầy ắp sự hiện diện và hành động. Ngài hiện diện khi hài nhi Giê-su sinh ra nơi máng cỏ nghèo hèn; ngài hiện diện khi phải đưa gia đình trốn sang Ai Cập trong đêm tối; ngài hiện diện trong những năm tháng lao động vất vả tại xưởng mộc để nuôi sống Thánh Gia…

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Tông thư Patris Corde (Với trái tim của người Cha), đã mô tả Thánh Giuse như một “người cha trong bóng tối”. Ngài viết:

“Thánh Giuse biết rằng mình không phải là chủ sở hữu của đứa trẻ, nhưng là người bảo hộ được ủy thác…

 Cha không phải sinh ra đã là cha, mà là do rèn luyện mà thành. Một người đàn ông không trở thành cha chỉ đơn giản bằng việc sinh con, mà bằng việc gánh vác trách nhiệm chăm sóc đứa con đó. Bất cứ khi nào một người đàn ông chấp nhận trách nhiệm về cuộc sống của người khác, bằng cách nào đó anh ta trở thành cha của người đó

Ngài viết tiếp rằng: “Giuse tìm thấy hạnh phúc không chỉ ở sự hy sinh bản thân mà còn ở sự hiến dâng chính mình. Ở ông, chúng ta không bao giờ thấy sự thất vọng mà chỉ thấy lòng tin. Sự im lặng kiên nhẫn của ông là khúc dạo đầu cho những biểu hiện cụ thể của lòng tin. Thế giới ngày nay cần những người cha. Nó không cần những bạo chúa muốn thống trị người khác để bù đắp cho nhu cầu của chính mình. Nó bác bỏ những kẻ nhầm lẫn quyền uy với chủ nghĩa độc đoán, phục vụ với sự nô lệ, thảo luận với sự áp bức, bác ái với tư duy phúc lợi, quyền lực với sự hủy diệt”. (Đức Thánh Cha Phanxicô, 2020, Patris Corde, số 7).

Đây là bài học vô giá cho các bậc làm cha mẹ trong giáo xứ chúng ta hôm nay. Giữa một thế giới ồn ào, nơi người ta thích phô trương cái tôi, Thánh Giuse dạy chúng ta giá trị của sự hy sinh thầm lặng. Làm cha, làm mẹ không phải là áp đặt ý muốn của mình lên con cái, mà là giúp chúng nhận ra và thực hiện ý muốn của Thiên Chúa trên cuộc đời chúng.

Cạnh đó, trong bài Tin Mừng Lc 2,41-51, chúng ta thấy hình ảnh Giuse và Maria hốt hoảng đi tìm con. Nỗi lo lắng của các ngài cho thấy tính nhân bản sâu sắc của tình phụ tử và mẫu tử. Khi tìm thấy Chúa Giê-su trong đền thờ, dù không hiểu hết lời Người nói, Giuse vẫn tiếp tục đồng hành, làm bóng mát cho Con Thiên Chúa lớn lên về cả “thể xác, trí tuệ và ân sủng”.

Mùa Chay là thời gian thuận tiện để mỗi người chúng ta cũng đi tìm Chúa như Thánh Giuse. Có lẽ nhiều lúc chúng ta đã để lạc mất Chúa trong bộn bề lo toan, trong những đam mê trần tục. Hãy chạy đến với Thánh Giuse, vì như lời khấn cầu: “Chưa bao giờ có ai chạy đến cùng Thánh Cả Giuse mà bị từ chối”.

Trong bài giảng ngày 19 tháng 3 năm 2013, tại Lễ Khai mạc Sứ vụ Mục tử của mình, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh: “Gìn giữ Chúa Giêsu và Đức Maria, gìn giữ toàn thể tạo hóa, gìn giữ mọi người, nhất là những người nghèo nhất… Đó chính là sứ vụ mà Thánh Giuse mời gọi chúng ta thực thi

Tôi muốn bổ sung thêm một điều nữa: sự quan tâm, bảo vệ đòi hỏi lòng tốt, cần có sự dịu dàng nhất định. Trong các sách Phúc Âm, Thánh Giuse hiện lên như một người đàn ông mạnh mẽ và can đảm, một người lao động, nhưng trong trái tim ngài, chúng ta thấy sự dịu dàng lớn lao, đó không phải là đức tính của kẻ yếu đuối mà là dấu hiệu của sức mạnh tinh thần và khả năng quan tâm, thương xót, cởi mở chân thành với người khác, và yêu thương. Chúng ta không nên sợ lòng tốt, sợ sự dịu dàng!” (Đức Thánh Cha Phanxicô, 19/3/2013).

Kính thưa cộng đoàn, hôm nay là lễ cầu cho giáo dân. Thánh Giuse là quan thầy của giáo xứ, Giáo Phận, Giáo hội toàn cầu, và ngài cũng là mẫu gương cho mỗi Gia trưởng, mỗi gia đình trong giáo xứ chúng ta.

  • Các người cha hãy học nơi Giuse sự dịu dàng chung thủy, bảo vệ vợ con trước những “cơn giông bão” của đời sống kinh tế và đạo đức.
  • Các bạn trẻ hãy học nơi Giuse sự kiên trì trong lao động và sự nhạy bén lắng nghe tiếng Chúa trong lương tâm.

Nguyện chúc cho mỗi người dân trong giáo xứ, nhờ lời bầu cử của Thánh Cả, luôn được bình an, mạnh khỏe và tràn đầy hy vọng trong tình yêu của Thiên Chúa.

Lạy Thánh Cả Giuse, xin gìn giữ mỗi gia đình trong giáo xứ chúng con. Xin cho các bậc làm cha mẹ biết yêu thương nhau bằng một tình yêu khiết tịnh và tận hiến. Xin cho chúng con biết lắng nghe tiếng Chúa giữa những ồn ào của cuộc sống, và luôn sẵn sàng thưa “xin vâng” trước mọi thánh ý Ngài. Amen.


Tài liệu tham khảo

  1. ĐTC. Gioan Phaolô II (1989). Tông huấn Redemptoris Custos (Người Gìn Giữ Đấng Cứu Thế). Truy cập tại: Vatican.va – Redemptoris Custos. (Trích dẫn số 4 về sự vâng phục của đức tin).
  2. ĐTC. Phanxicô (2020). Tông thư Patris Corde (Với trái tim của người Cha). Truy cập tại: Vatican.va – Patris Corde. (Trích dẫn số 7 về vai trò người cha trong bóng tối).
  3. ĐTC. Phanxicô (2013). Bài giảng Lễ Khai mạc Sứ vụ Phêrô (19/03/2013). Truy cập tại: Vatican.va – Homily 19 March 2013.

Thứ Bảy sau Lễ Tro – Thánh Phêrô Đamianô; Gm, TSHT

Thứ Bảy sau Lễ Tro - Thánh Phêrô Đamianô; Gm, TSHT

Ngày Giáo Phận Cầu Nguyện Cho Những Người Sống Đời Thánh Hiến Còn Sống Hay Đã Qua Đời

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” (Mt 5,3).

1Sm 3,3b-10.19; Ep 1,3-14; Mt 5,1-10 – Is 58,9b-14; Lc 5,27-32

Lm.John Trần

Hôm nay, chúng ta cùng quy tụ trong bầu khí linh thánh của những ngày đầu Mùa Chay, đồng thời hiệp ý cùng Giáo phận cầu nguyện cho những người sống đời thánh hiến. Phụng vụ lời Chúa mời gọi chúng ta chiêm ngắm chân dung của Chúa Giêsu trong bài giảng trên núi, nơi Ngài công bố bản Hiến chương của Nước Trời: Tám Mối Phúc Thật.

Tôi xin chia sẻ chủ đề hôm nay là: “Sống Đời Thánh Hiến: Khúc Ca Của Tám Mối Phúc.”

1. Tiếng gọi từ miền Thập Giá và Vinh Quang

Trong bài Tin Mừng, Thánh Mattheu khắc họa hình ảnh Chúa Giêsu lên núi và bắt đầu giảng dạy: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” (Mt 5,3). Đây không phải là những lời hứa hão huyền, mà là một lời mời gọi lội ngược dòng. Thế gian bảo rằng phúc cho ai giàu có, quyền thế và hưởng thụ; nhưng Chúa lại bảo phúc cho những ai biết cậy trông vào Thiên Chúa và có lòng xót thương.

Đặc biệt, đối với các tu sĩ và những người sống đời thánh hiến mà chúng ta cầu nguyện cho hôm nay, Tám Mối Phúc không chỉ là lý thuyết, mà là kim chỉ nam cho căn tính của họ. Khi khấn giữ Nghèo khó, Khiết tịnh và Vâng phục, họ đang nỗ lực hiện thực hóa lời Chúa: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.” (Mt 5,8).

2. Sự thánh hiến là khí cụ của lòng thương xót

Thánh Phêrô Đamianô, vị Tiến sĩ Hội thánh mà chúng ta mừng kính hôm nay, là một mẫu gương sống động về việc kết hợp giữa đời sống ẩn tu khắc khổ và sự dấn thân phục vụ Giáo hội. Ngài đã dùng đời sống thánh thiện của mình để canh tân hàng giáo sĩ và bảo vệ đức tin.

Trong Tông huấn Vita Consecrata, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng: “Đời sống thánh hiến không chỉ là một sự giúp đỡ trong quá khứ, nhưng là một quà tặng quý giá và cần thiết cho hiện tại và tương lai của Dân Chúa” (Vita Consecrata, số 2). Những người nam nữ tu sĩ là những người chọn sống “triệt để” Tin Mừng, để qua họ, thế gian thấy được thấp thoáng bóng dáng của Thiên Đàng ngay tại trần thế.

Chúng ta cầu nguyện cho những người đã qua đời, xin Chúa thương đón nhận những hy sinh thầm lặng của họ. Chúng ta cũng cầu nguyện cho những người đang sống, để họ luôn giữ được ngọn lửa nhiệt thành, không gục ngã trước những cám dỗ của chủ nghĩa thế tục. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhắn nhủ trong bài giảng ngày 2 tháng 2 năm 2024: “Đời sống thánh hiến là một cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô: chính Ngài là Đấng đến với chúng ta, và chính chúng ta là những người đi đến với Ngài qua sự dẫn dắt của Thánh Thần.

3. Sống Phúc Âm giữa lòng đời

Tám Mối Phúc không dành riêng cho các tu sĩ, mà là lời mời gọi cho tất cả chúng ta. Mỗi khi chúng ta biết nhịn nhục, biết khao khát sự công chính, hay biết kiến tạo hòa bình, chúng ta đang trở thành “muối cho đời và ánh sáng cho trần gian”.

“Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5,9). Trong một thế giới đầy rẫy những chia rẽ, xin cho mỗi chúng ta, dù là giáo dân hay tu sĩ, biết nhìn nhau bằng ánh mắt cảm thông, biết trao cho nhau nụ cười của niềm hy vọng.

Nguyện xin qua lời chuyển cầu của Thánh Phêrô Đamianô, xin Chúa chúc lành cho tất cả những người sống đời thánh hiến trong Giáo phận chúng ta, để cuộc đời họ mãi là bài ca chúc tụng lòng thương xót Chúa, và để chúng ta cũng biết can đảm sống tinh thần Tám Mối Phúc trong chính gia đình và môi trường làm việc của mình. Amen.

Thứ Ba Tuần V TN – Thánh Scholastica,Trinh nữ

Thứ Ba Tuần V TN - Thánh Scholastica,Trinh nữ

TỪ NGHI LỄ BÊN NGOÀI ĐẾN TÌNH YÊU BÊN TRONG

“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7,6)

1V8,22-23.27-30; Mc 7,1-13

Lm. John Trần

Trong đời sống đức tin, chúng ta thường dễ rơi vào cái bẫy của sự chỉn chu bề ngoài mà quên mất cái cốt lõi bên trong. Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 7,1-13) tường thuật cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và những người Pharisêu về truyền thống rửa tay. Đối với họ, đạo đức được đo bằng việc tuân giữ tỉ mỉ các tập tục: “Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng” (Mc 7,4). Nhưng Chúa Giêsu đã dùng lời ngôn sứ Isaia để cảnh tỉnh: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7,6).

Chúa Giêsu không phủ nhận sự sạch sẽ, nhưng Người kịch liệt phản đối lối sống đạo “duy hình thức” – nơi mà người ta dùng luật lệ để che đậy một trái tim thiếu vắng tình thương.

Trong bài đọc I, vua Salomon khi khánh thành Đền Thờ đã thốt lên: “Có thật Thiên Chúa cư ngụ dưới đất chăng? Này, trời cao thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi là ngôi nhà con đã xây đây!” (1V 8,27). Salomon hiểu rằng Thiên Chúa không bị giới hạn trong bốn bức tường gạch đá, Ngài hiện diện nơi tâm hồn chân thành.

Hôm nay, Giáo hội mừng kính Thánh nữ Scholastica – em gái của Thánh Đan sĩ Bênêđictô. Cuộc đời bà là một minh chứng sống động cho việc ưu tiên tình yêu trên lề luật. Chuyện kể rằng trong cuộc gặp gỡ cuối cùng, bà đã xin anh mình ở lại qua đêm để đàm đạo về tâm linh. Thánh Bênêđictô từ chối vì kỷ luật đan viện không cho phép ông ở ngoài dòng đêm đó. Thánh Scholastica đã gục đầu cầu nguyện, và một cơn mưa dữ dội ập đến khiến thánh nhân không thể ra về. Khi Thánh Bênêđictô phàn nàn, bà trả lời: “Em xin anh, anh chẳng nghe; em xin Chúa, Chúa đã nhậm lời“. Thánh Grêgôriô Cả đã nhận xét về sự kiện này: “Bà làm được nhiều hơn vì bà yêu mến nhiều hơn“.

Thánh Scholastica không phá đổ kỷ luật, nhưng bà nhắc chúng ta rằng: luật lệ phải phục vụ tình yêu, chứ không phải giam cầm nó. Trong Tông huấn Gaudete et Exsultate, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cảnh báo về hình thức “đạo đức giả” khi quá chú trọng vào những quy tắc khô khan: “Thường khi, vì đi ngược với sự thúc đẩy của Thần Khí, đời sống của Giáo Hội trở thành một món mẫu của bảo tàng hay của riêng một thiểu số ưu tuyển. Điều này xảy ra khi một số nhóm Kitô hữu đề cao thái quá một số quy tắc, tập tục hay những lối hành xử riêng nào đó. Khi ấy, Tin Mừng có nguy cơ bị giản lược và bị bóp nghẹt, bị tước mất tính đơn sơ, sức hấp dẫn và hương vị của nó” (Phanxicô, 2018, số 58). Ngài cũng nhấn mạnh trong Bài giảng tại Nhà trọ Thánh Marta rằng: “Lòng đạo đức thực sự không phải là một chiếc áo khoác ngoài, mà là một trái tim biết rung cảm trước Thiên Chúa và tha nhân” (Phanxicô, 2014).

Kính thưa anh chị em, đôi khi chúng ta đi lễ hằng ngày, đọc kinh râm ran nhưng lại mang một trái tim xét nét, khinh khi người khác. Đó là lúc chúng ta “gạt bỏ mệnh lệnh của Thiên Chúa để nắm giữ truyền thống của người phàm” (Mc 7,8). Chúa muốn chúng ta giữ sạch chén bát, nhưng Ngài khao khát chúng ta giữ sạch tâm hồn khỏi sự vô cảm và lòng kiêu ngạo.

Ước gì qua lời chuyển cầu của Thánh Scholastica, chúng ta biết đặt tình yêu lên trên hết. Xin cho mỗi chúng ta khi bước vào nhà thờ, không chỉ mang theo cái xác không hồn, nhưng mang theo một trái tim rực cháy niềm tin, để ánh sáng Tin Mừng thực sự chiếu soi vào mọi ngõ ngách của đời sống hằng ngày.

Thứ  Sáu Tuần IV TN, Thánh Phaolô Miki và các bạn Tử đạo

Thứ  Sáu Tuần IV TN, Thánh Phaolô Miki và các bạn Tử đạo

LẼ SỐNG CỦA SỰ THẬT VÀ GIÁ MÁU CỦA CHỨNG NHÂN

“Các vị tử đạo là những người đã tin vào tình yêu của Thiên Chúa đến cùng”

Hc 47,2-11; Mc 6,14-29

Lm.John Trần

Cuộc đời là một chuỗi những chọn lựa. Có những chọn lựa mang lại vinh quang tạm bợ, nhưng cũng có những chọn lựa dẫn đến sự sống đời đời dù phải trả bằng giá máu. Phụng vụ lời Chúa hôm nay đặt ra trước mắt chúng ta hai thái cực của tự do con người: một Hêrôđê hèn nhát bị giam cầm trong tội lỗi và một Gioan Tẩy Giả hiên ngang trong sự thật.

Trong bài Tin Mừng, thánh Máccô đã vẽ nên một bức tranh tương phản đầy nhức nhối. Vua Hêrôđê, dù nắm trong tay quyền sinh quyền sát, lại là kẻ nô lệ cho dục vọng và dư luận. Chỉ vì một lời hứa bốc đồng trong cơn say và để giữ diện mạo trước quan khách, ông đã ra lệnh chém đầu người mà ông hằng kính nể là Gioan. Ngược lại, thánh Gioan Tẩy Giả dù bị xiềng xích trong ngục tối, lại là người tự do nhất. Ngài tự do vì ngài đã chọn lẽ sống là sự thật. Ngài không thỏa hiệp với cái xấu, không cúi đầu trước bạo quyền, vì ngài biết mình là tiếng kêu của Đấng Công Chính.

Sứ mạng ngôn sứ luôn đi kèm với thập giá. Như sách Huấn Ca ca ngợi vua Đavít đã dùng hết tâm hồn để tôn vinh Đấng Tối Cao (x. Hc 47,8), thì Gioan Tẩy Giả và các vị Tử đạo cũng đã dùng chính mạng sống mình để làm một bài ca tôn vinh Thiên Chúa.

Hôm nay, chúng ta mừng kính thánh Phaolô Miki và 25 bạn tử đạo tại Nhật Bản. Các ngài là hiện thân của thánh Gioan Tẩy Giả trên đất nước mặt trời mọc vào thế kỷ XVI. Khi bị treo trên thập giá tại Nagasaki, thánh Phaolô Miki đã không buông lời oán hận. Ngài dõng dạc tuyên xưng đức tin và tha thứ cho những kẻ hành hình mình. Ngài đã chọn một lẽ sống vượt lên trên nỗi sợ cái chết: đó là tình yêu dành cho Đức Kitô.

Trong bài giảng tại Nagasaki ngày 25 tháng 2 năm 1981, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã khẳng định: “Các vị tử đạo là những người đã tin vào tình yêu của Thiên Chúa đến cùng. Họ là những người đã chọn lựa một cách dứt khoát giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự sống và sự chết.”

Kính thưa cộng đoàn, giữa một thế giới mà giá trị đạo đức đôi khi bị đánh đổi bởi lợi ích cá nhân, chúng ta được mời gọi trở thành những “ngôn sứ của sự thật”.

  • Chúng ta có dám nói “không” với gian dối trong công việc?
  • Chúng ta có dám bảo vệ người thấp cổ bé họng trước những bất công?
  • Chúng ta có dám sống thanh sạch giữa một xã hội đầy dẫy những “Hêrôđia” và “Salômê” của thời đại mới?

Thánh Phêrô nhắc nhở chúng ta: “Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là tư tế vương giả, là dân thánh… để loan truyền những kỳ công của Người” (1Pr 2,9). Được chọn làm dân thánh không phải để hưởng thụ, mà để làm chứng. Đừng dùng tài năng Chúa ban để xây dựng “tháp Babel” cho cái tôi, nhưng hãy dùng chúng để gieo rắc hạt giống Tin Mừng.

Lạy Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo, xin cho chúng con ơn can đảm để luôn chọn Chúa làm gia nghiệp duy nhất. Xin cho chúng con biết sống ngay thẳng, thật thà, để dù trong hoàn cảnh nào, cuộc đời chúng con cũng rạng ngời ánh sáng của sự thật. Amen.