LỄ VỌNG – SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ – Chiều 23/6

LỄ VỌNG – SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ - Chiều 23/6

ƠN GỌI LÀM NGƯỜI VÀ LÀM NGÔN SỨ

“Ông sẽ được đầy Thánh Thần ngay khi còn trong lòng mẹ” (Lc 1,15)

Gr 1,4-10 ; 1Pr 1,8-12  ;  Lc 1,5-17

Lm.John Trần

Chiều hôm nay, bước vào Thánh lễ Vọng kính Sinh nhật Thánh Gioan Tẩy Giả, Lời Chúa qua các bài đọc đưa chúng ta vào Mầu nhiệm của sự tuyển chọn, của ơn thánh hiến ngay từ trong lòng mẹ và sứ mạng dọn đường cho Đấng Cứu Thế.

Trong bài đọc 1, chúng ta nghe lại tiếng Chúa gọi ngôn sứ Giêrêmia: “Trước khi tạo thành ngươi trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr 1,5). Lời tuyên phán này cho thấy ơn gọi không phải là một sự tình cờ của số phận hay do nỗ lực của con người, mà xuất phát từ ý định yêu thương muôn đời của Thiên Chúa.

Sự tuyển chọn mầu nhiệm ấy được họa lại một cách tỏ tường nơi sự hạ sinh của Thánh Gioan Tẩy Giả trong bài Tin Mừng theo thánh Luca. Một tư tế Dacaria đã già nua và người vợ Êlisabét vốn mang tiếng son sẻ, những tưởng hy vọng lưu truyền nòi giống đã hoàn toàn lụi tàn theo năm tháng. Thế nhưng, điều con người cho là bất lực lại là nơi Thiên Chúa biểu lộ quyền năng. Sự xuất hiện của Gioan không theo quy luật tự nhiên, mà là hoa trái của ân sủng. Sứ thần Gápriên đã loan báo: “Ông sẽ được đầy Thánh Thần ngay khi còn trong lòng mẹ” (Lc 1,15). Gioan đã được Thiên Chúa “biết đến” và “thánh hiến” từ trước, để chuẩn bị cho một sứ vụ vĩ đại nhất trong lịch sử ơn cứu độ.

Thánh Gioan ra đời không chỉ đem lại niềm vui rạng rỡ cho gia đình Dacaria, mà còn là niềm vui chung cho toàn thể nhân loại đang mong đợi ơn cứu độ. Trong bài đọc 2, Thánh Phêrô đã viết: “Các ngôn sứ đã nghiên cứu và tìm hiểu ơn cứu độ này, và đã tuyên sấm về ân sủng dành cho anh em” (1 Pr 1,10).

Suốt dòng dài lịch sử Cựu Ước, từ Giêrêmia cho đến các vị ngôn sứ khác, tất cả đều mỏi mòn ngóng trông, nghiên cứu và nói tiên tri về một Đấng Cứu Thế sẽ đến để giải thoát nhân loại. Thánh Gioan Tẩy Giả chính là nhịp cầu nối tuyệt diệu, là điểm giao thoa giữa Cựu Ước và Tân Ước. Ngài là vị ngôn sứ vĩ đại và cũng là vị ngôn sứ cuối cùng. Ngài không chỉ nói tiên tri về Chúa, mà còn chỉ cho nhân loại thấy Đấng Cứu Thế đang hiện diện bằng xương bằng thịt: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”.

Sứ thần loan báo về Gioan: “Ông sẽ đi trước mặt Chúa, đầy thần trí và quyền năng của ngôn sứ Êlia, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu… chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (Lc 1,17). Cả cuộc đời Gioan là một tiếng hô trong hoang địa, là ngọn đèn cháy sáng chấp nhận lu mờ đi để Mặt Trời Công Chính được tỏ rạng.

Mừng lễ Sinh nhật Thánh Gioan Tẩy Giả, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi nhìn lại căn tính và ơn gọi của chính mình:

  • Xác tín vào tình yêu Thiên Chúa: Cũng như Giêrêmia và Gioan Tẩy Giả, mỗi người chúng ta hiện diện trên trần gian này không phải là một sự tình cờ vô nghĩa. Thiên Chúa đã biết rõ tên ta, đã yêu thương và thánh hiến ta qua Bí tích Rửa Tội ngay từ buổi ban đầu.
  • Can đảm dọn đường cho Chúa: Giữa một thế giới đang vắng bóng tình yêu và sự thật, chúng ta được mời gọi trở thành những “Gioan Tẩy Giả” của thời đại hôm nay. Hãy dọn đường cho Chúa đến với gia đình, nơi công sở và khu xóm bằng đời sống công chính, khiêm nhường và bác ái.
  • Hàn gắn những rạn nứt: Gioan mang sứ mạng “làm cho lòng cha ông quay về với con cháu”. Mỗi Kitô hữu cũng phải là những sứ giả của sự hòa giải, biết xóa bỏ những hận thù, ghen ghét để nối lại nhịp cầu yêu thương giữa những người thân trong gia đình và cộng đoàn.

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo hội một mẫu gương tuyệt vời là Thánh Gioan Tẩy Giả. Xin cho chúng con luôn ý thức được phẩm giá cao trọng của mình là những người được Chúa biết đến và yêu thương từ trong lòng mẹ. Xin ban sức mạnh Thánh Thần, để chúng con can đảm sống sứ mạng dọn đường cho Chúa, làm chứng cho sự thật và đem niềm hy vọng cứu độ đến cho mọi người chung quanh. Amen.

Lễ Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ

Lễ Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ

MỘT TRÁI TIM LUÔN GHI NHỚ VÀ XIN VÂNG

“Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những việc đó trong lòng.” (Lc 2,51).

Is 61,9-11; Lc 2,41-51 ( 1V 19,19-21; Mt 5,33-37)

Lm.John Trần

Liền sau ngày Lễ Trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Giáo Hội ân cần mời gọi chúng ta chiêm ngắm Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ. Hai trái tim ấy không bao giờ tách rời nhau, mà luôn đập chung một nhịp đập của tình yêu cứu độ. Nếu Thánh Tâm Chúa Giêsu là đại dương xót thương tuôn trào máu và nước để gội rửa trần gian, thì Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ là máng chuyển thông ân sủng, là bến đỗ bình an, và là hình mẫu hoàn hảo nhất cho nhân loại trong hành trình đáp lời “Xin Vâng” với Thiên Chúa.

Bài đọc 1 trích sách ngôn sứ Isaia hôm nay diễn tả một niềm vui khôn tả, một sự hớn hở vượt lên trên mọi phiền muộn của trần thế: “Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa, nhờ Thiên Chúa tôi thờ, tôi hớn hở biết bao! Vì Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ, choàng cho tôi đức chính trực công minh.” (Is 61,10). Trái tim Mẹ rộn rã niềm vui bởi Mẹ đã hoàn toàn nhường chỗ cho ân sủng của Thiên Chúa hoạt động. Sự “vô nhiễm” của Mẹ không chỉ là đặc ân được gìn giữ khỏi vết nhơ nguyên tội, mà còn là sự quy hướng trọn vẹn và tuyệt đối về ánh sáng chân lý, không để một bóng tối mờ ám nào của sự ích kỷ chen vào.

Tuy nhiên, có một trái tim vô nhiễm không có nghĩa là Mẹ được miễn trừ khỏi những đau khổ hay thử thách của phận người. Đoạn Tin Mừng theo Thánh Luca đưa chúng ta vào một biến cố đầy kịch tính: Đức Mẹ và Thánh Giuse lạc mất Chúa Giêsu suốt ba ngày tại Đền Thờ Giêrusalem. Hãy thử hình dung nỗi thắt lòng, sự lo âu tột độ của một người mẹ khi mất con. Và rồi khi tìm thấy, câu trả lời của Chúa Giêsu lại vượt quá sự hiểu biết thông thường: “Hẳn cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49). Đứng trước mầu nhiệm quá lớn lao ấy, Mẹ đã làm gì? Thánh Luca ghi lại một câu tuyệt đẹp: “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những việc đó trong lòng.” (Lc 2,51).

Mẹ không gạt bỏ những điều khó hiểu, cũng không oán trách. Mẹ đón nhận và cưu mang mọi biến cố vào trong trái tim thinh lặng để suy đi nghĩ lại, chờ đợi ánh sáng của Chúa Thánh Thần soi chiếu. Đó chính là sự vĩ đại của Trái Tim Vô Nhiễm!

Chính trong sự thinh lặng và chiêm niệm này mà Sứ điệp Fatima trở nên rực rỡ và gần gũi với mỗi người chúng ta. Khi Đức Mẹ hiện ra tại Fatima và kêu gọi tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm, Mẹ không đưa ra một hình thức đạo đức xa lạ, mà Mẹ mời gọi ta học lấy cách sống nội tâm của Mẹ. Trong tài liệu Bình luận Thần học về Sứ điệp Fatima, Đức Hồng y Joseph Ratzinger (sau này là Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI) đã soi sáng cho chúng ta rằng: “Có một trái tim ‘vô nhiễm’ nghĩa là một trái tim, nhờ ân sủng Thiên Chúa, đã đạt tới sự hiệp nhất nội tâm trọn vẹn và nhờ đó ‘nhìn thấy Thiên Chúa’. Vì vậy, ‘tôn sùng’ Trái Tim Vô Nhiễm Đức Maria có nghĩa là đón nhận thái độ này của trái tim, làm cho tiếng xin vâng—’ý Cha thể hiện’—trở thành trung tâm chi phối toàn bộ đời sống” [*].

Giữa một thế giới đầy dẫy những tiếng ồn ào, những lo âu về cơm áo gạo tiền, và đôi khi là cả những đổ vỡ trong gia đình, trái tim chúng ta rất dễ trở nên xáo trộn, chai đá và mất phương hướng. Lời mời gọi “Hãy để Trái Tim Nguyên Tội của Mẹ trở thành con đường đưa các con đến với Thiên Chúa” chính là tia sáng hy vọng cho mỗi người chúng ta. Tôn sùng Trái Tim Mẹ không chỉ dừng lại ở việc đọc kinh râm ran, mà là hành trình thanh luyện trái tim mình. Là biết học nơi Mẹ cách “ghi nhớ mọi việc trong lòng” để nhận ra thánh ý Chúa qua từng biến cố vui buồn của cuộc sống.

Xin cho mỗi người chúng ta, khi chiêm ngắm Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ hôm nay, tìm được sự an ủi và sức mạnh. Đừng sợ hãi trước những khó khăn của cuộc đời, vì chúng ta có một Người Mẹ luôn mở rộng trái tim làm nơi nương náu an toàn. Xin Mẹ uốn nắn trái tim chúng ta trở nên giống Trái Tim Mẹ: một trái tim biết yêu mến thiết tha, biết thinh lặng lắng nghe, và luôn sẵn sàng thưa hai tiếng “Xin Vâng” trọn vẹn với Thiên Chúa. Amen.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[*].Hồng y Joseph Ratzinger, (2000). The Message of Fatima (Theological Commentary). Congregation for the Doctrine of the Faith. Vatican. Truy xuất từ: https://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/rc_con_cfaith_doc_20000626_message-fatima_en.html

Lễ Thánh Barnaba, Tông Đồ – ngày 11/6

Lễ Thánh Barnaba, Tông Đồ - ngày 11/6

NGƯỜI CON CỦA NIỀM AN ỦI

“Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”.

Cv 11, 21b-26; 13, 1-3 | Mt 10, 7-13

Lm.John Trần

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo hội, chúng ta hân hoan mừng kính Lễ Thánh Barnaba, vị Tông đồ nhiệt thành trong thời kỳ đầu của Giáo hội sơ khai. Ngang qua các bài đọc Kinh Thánh hôm nay và cuộc đời của thánh nhân, chúng ta tìm thấy một mẫu gương tuyệt đẹp về tinh thần dấn thân và sự nâng đỡ huynh đệ.

1. Cuộc đời và bước chân truyền giáo của Thánh Barnaba

Theo sách Tông Đồ Công Vụ, Thánh Barnaba tên thật là Giuse, một thầy Lêvi sinh tại đảo Sýp (Cyprus). Các Tông đồ đã gọi ngài là “Barnaba”, nghĩa là “Người con của sự nâng đỡ” hay “Người con của niềm an ủi”. Quả thật, cái tên đã nói lên trọn vẹn con người và sứ mạng của ngài:

Sự quảng đại: Ngài đã bán ruộng đất của mình, đem tiền đặt dưới chân các Tông đồ để chia sẻ cho cộng đoàn.

Người bắc nhịp cầu: Khi Saolô (Thánh Phaolô) mới trở lại, mọi người đều sợ hãi và nghi ngờ người từng bắt bớ đạo này. Chính Barnaba đã đứng ra bảo lãnh, giới thiệu Phaolô với các Tông đồ.

Sách Tông Đồ Công Vụ (Cv 11,21b-26) kể lại, khi thấy ơn Chúa hoạt động mạnh mẽ tại Antiôkhia, Barnaba không giữ thành quả cho riêng mình. Ngài đã cất công đến tận Tác-xô tìm Phaolô để cùng hợp tác. Nhờ sự khiêm tốn và nhạy bén ấy, cộng đoàn Antiôkhia đã phát triển rực rỡ, và cũng chính tại đây, những người tin theo Chúa lần đầu tiên được gọi là “Kitô hữu”.

2. Sứ mạng trao ban bình an và chữa lành

Trong bài Tin Mừng (Mt 10,7-13), Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng với lệnh truyền: “Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Hãy chữa lành người đau ốm, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ“.

Thánh Barnaba đã thực thi lệnh truyền này một cách xuất sắc. Ngài không chỉ chữa lành những căn bệnh thể xác, mà còn chữa lành những rạn nứt trong các mối quan hệ. Bằng lòng nhân hậu, ngài đã “khử trừ ma quỷ” của sự chia rẽ, nghi kỵ, và mang lại bình an cho các cộng đoàn ngài đặt chân đến. Ngài chính là hiện thân của Lời Chúa: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”.

3. Bài học cho chúng ta hôm nay

Mừng kính Thánh Barnaba, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi trở thành một “Barnaba” trong thời đại hôm nay:

Trở thành người nâng đỡ: Trong gia đình, xứ đạo và nơi làm việc, hãy dùng lời nói và hành động để an ủi những người đang buồn sầu, khích lệ những ai đang thất vọng.

Biết trân trọng người khác: Đừng đố kỵ hay ghen ghét trước tài năng của anh em, nhưng hãy biết nhìn nhận, cộng tác và tạo cơ hội cho họ phát triển, giống như Barnaba đã làm với Phaolô.

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Thánh Barnaba tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần để ngài trở thành người con của sự nâng đỡ và an ủi. Xin cho chúng con hôm nay cũng biết mở rộng trái tim, sẵn sàng đồng hành, cảm thông và mang bình an của Chúa đến cho mọi người xung quanh. Amen.

Thứ  Sáu – Tuần IX – Mùa Thường Niên

Thánh Bonifacio, Giám mục, tử đạo, Ngày 5/6

Thánh Bonifacio, Giám mục, tử đạo, Ngày 5/6

TRUNG THÀNH VỚI CHÂN LÝ LỜI CHÚA

“Chính vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì Đấng Ki-tô lại là con vua ấy làm sao được?” (Mc 12,37)

2Tm 3,10-17; Mc 12,35-37

Lm.John Trần

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng Thánh Vịnh để đặt ra một câu hỏi sắc bén cho các kinh sư về Đấng Kitô: “Chính vua Đa-vít được Thánh Thần soi sáng đã nói: Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi: Bên hữu Cha đây, Con cứ ngự trị, để Thầy đặt quân thù làm bệ dưới chân Con. Chính vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì Đấng Ki-tô lại là con vua ấy làm sao được?” (Mc 12,36-37). Bằng việc mặc khải căn tính thần linh của mình, Chúa Giêsu nhắc nhở dân chúng rằng Lời Chúa trong Kinh Thánh không phải là một văn bản để tranh luận theo tư lợi, mà là Chân Lý hằng sống, đòi hỏi con người phải quy phục và trung thành phụng thờ.

Sống trung thành với Chân Lý Lời Chúa đòi hỏi một sự can đảm phi thường, bởi lẽ thế gian luôn tìm cách chống đối. Thánh Phaolô trong bài đọc một đã thẳng thắn chia sẻ kinh nghiệm xương máu ấy cho người môn đệ Timôthê: “Về phần anh, anh đã theo sát tôi trong giáo lý, trong lối sống, trong dự định, trong đức tin, trong lòng nhẫn nại, trong đức ái, trong sự kiên trì, trong những cuộc bách hại, trong những đau khổ… và mọi người muốn sống đạo đức trong Đức Ki-tô Giê-su đều sẽ bị bách hại.” (2Tm 3,10-12). Ngài nhắn nhủ Timôthê phải bám chặt lấy nền tảng Kinh Thánh, vì “tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính.” (2Tm 3,16).

Gương mẫu tuyệt vời cho việc gắn kết cuộc đời với Lời Chúa giữa bách hại chính là vị thánh Giám mục, Tử đạo Bônifatiô mà chúng ta mừng kính hôm nay. Sinh tại Anh quốc vào thế kỷ thứ VIII, (năm 673 – 754). Ngài sớm dâng mình cho Chúa và trở thành một đan sĩ thông thái. Với lòng nhiệt thành truyền giáo, ngài được Đức Thánh Cha Grêgôriô II phái sang vùng đất nước Đức ngày nay để gieo vãi hạt giống Tin Mừng. Đối diện với những bộ tộc man di dữ tợn và các hủ tục thờ ngẫu tượng, thánh nhân không hề sợ hãi. Ngài đã dùng rìu chặt đổ cây sồi khổng lồ Thần Sấm Thor của dân ngoại tại Geismar, dùng chính gỗ cây ấy để xây dựng một nhà nguyện dâng kính Thánh Phêrô. Suốt cuộc đời, ngài trung kiên bảo vệ giáo lý thuần túy của Giáo hội. Đức giáo hoàng Gregoriô III phong đức Bônifacio lên chức Tổng giám mục và trao cho trách nhiệm thiết lập các toà giám mục ở nước Đức. Năm 754, khi đang chuẩn bị ban bí tích Thêm Sức cho các tân tòng tại Dokkum, ngài bị một nhóm người vũ trang tấn công. Ngài nghiêm cấm các môn đệ dùng vũ lực đáp trả và nhắn nhủ: “Đừng sợ những kẻ giết được thân xác. Can đảm lên, khí giới này không làm gì được linh hồn…. hãy neo chặt niềm hy vọng vào Thiên Chúa.” Các lương dân xông vào sát hại các nhà truyền giáo. Một nhát búa bổ xuống đầu Đức Tổng giám mục và cuốn Phúc âm Ngài đang cầm trong tay.*

Nhìn vào mẫu gương của thánh Bônifatiô, chúng ta được mời gọi chất vấn chính mình. Giữa một thế giới hôm nay đầy rẫy những trào lưu thực dụng, những quan niệm sai lệch về đạo đức, chúng ta có dám can đảm sống theo Lời Chúa, hay chúng ta chọn thỏa hiệp với sự dữ để tìm kiếm sự an toàn giả tạo?

Nguyện xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta, nhờ lời chuyển cầu của thánh Bônifatiô, một đức tin kiên vững, lòng yêu mến Sách Thánh thiết tha, để dẫu có gặp thử thách, bách hại ngầm hay công khai, chúng ta vẫn can đảm làm chứng cho Đức Kitô trong niềm vui, bình an và hy vọng bất diệt. Amen.

* Tổng giáo phận Sài Gòn. (2011, 4 tháng 6). Ngày 05/06: Thánh Bônifát, Giám mục, Tử đạo. Truy cập từ https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-05-06-thanh-boniphatgiam-muctu-dao-36915

Thứ  Tư – Tuần IX – Mùa Thường Niên

Thánh Carôlô Lwanga và các bạn Tử đạo  - ngày 3/6

Thánh Carôlô Lwanga và các bạn Tử đạo  – ngày 3/6

THIÊN CHÚA CỦA SỰ SỐNG VÀ NIỀM HY VỌNG PHỤC SINH

Khi người ta sống lại từ cõi chết, thì chẳng cưới vợ lấy chồng, nhưng sẽ như các thiên thần trên trời” (Mc 12,25).

 2Tm 1,1-3.6-12; Mc 12,18-27

Lm.John Trần

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta trước một chân lý của đức tin Kitô giáo: niềm hy vọng vào sự phục sinh và sự sống đời đời. Trong bài Tin Mừng, nhóm Sa-đốc – những người không tin có sự sống lại – đã đến gặp Chúa Giêsu và đưa ra một câu chuyện giả định về một người đàn bà lần lượt lấy bảy anh em trai để chất vấn Ngài. Họ dùng nhãn quan trần tục, đầy giới hạn để bóp nghẹt mầu nhiệm mai hậu.

Trước ý đồ ấy, Chúa Giêsu không chỉ bác bỏ lối suy diễn sai lạc của họ mà còn khẳng định một thực tại hoàn toàn mới mẻ: “Khi người ta sống lại từ cõi chết, thì chẳng cưới vợ lấy chồng, nhưng sẽ như các thiên thần trên trời” (Mc 12,25). Ngài dẫn họ trở về với Kinh Thánh để công bố danh tính đích thực của Đấng Tối Cao: “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống” (Mc 12,27). Thiên Chúa của chúng ta là nguồn mạch sự sống, Ngài thông ban sự sống ấy cho con người và gìn giữ nó mãi mãi, vượt qua cả giới hạn của cái chết thể lý.

Chính niềm xác tín mãnh liệt vào Thiên Chúa của kẻ sống đã ban sức mạnh cho thánh Phaolô tông đồ khi ngài bị xiềng xích trong ngục tù. Trong bài đọc một, ngài đã nhắn nhủ người môn đệ trẻ Timôthê bằng những lời tràn đầy nhiệt huyết: “Vì lý do đó, tôi phải chịu những đau khổ này, nhưng tôi không xấu hổ, vì tôi biết tôi đã tin vào ai” (2Tm 1,12). Thánh Phaolô không đặt niềm tin vào một học thuyết trừu tượng, nhưng vào một Ngôi Vị sống động là Đức Kitô Phục Sinh – Đấng đã tiêu diệt sự chết và làm bừng sáng sự sống bất diệt.

Minh chứng hùng hồn nhất cho niềm hy vọng phục sinh này chính là mẫu gương của thánh Carôlô Lwanga và các bạn tử đạo xứ Uganda mà Giáo hội mừng kính hôm nay 3/6. Vào thế kỷ XIX, tại đất nước Uganda, bạo chúa Mwanga đã khơi dậy cuộc bách hại tàn khốc chống lại các Kitô hữu. Thánh Carôlô Lwanga, một  trong số hai mươi hai vị tử đạo được đức thánh cha Phaolô VI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1964, là một cận thần trẻ tuổi, cùng với các bạn của mình đã can đảm bảo vệ đức tin và sự khiết tịnh trước những đòi hỏi luân lý đầy tội lỗi của nhà vua. Dù phải đối mặt với án thiêu sống trên ngọn lửa hồng tại đồi Namugongo vào năm 1886, các ngài vẫn không hề oán hận, trái lại còn hát vang thánh vịnh ca tụng Chúa giữa khói lửa ngút trời. Các ngài chấp nhận để thân xác chịu thiêu rụi vì biết chắc rằng Thiên Chúa sẽ ban lại cho các ngài sự sống mới vinh hiển.

Kính thưa cộng đoàn, lời Chúa và gương các thánh tử đạo hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta nhìn lại thái độ sống đạo của mình. Nhiều khi chúng ta quá bận lòng, lo lắng về những sự thế gian mà quên đi đích đến tối hậu là Nước Trời. Khi đối diện với đau khổ, thử thách hay những bách hại ngấm ngầm về mặt đức tin trong môi trường sống, chúng ta có dám tuyên xưng như thánh Phaolô: “tôi biết tôi đã tin vào ai”?

Xin Chúa ban cho chúng ta một đức tin vững vàng vào Thiên Chúa của sự sống, để dẫu bước đi giữa muôn vàn biến động của cuộc đời, tâm hồn chúng ta vẫn tràn ngập niềm vui, bình an và niềm hy vọng phục sinh tươi sáng. Amen.