Thứ  Tư – Tuần IX – Mùa Thường Niên

Thánh Carôlô Lwanga và các bạn Tử đạo  - ngày 3/6

Thánh Carôlô Lwanga và các bạn Tử đạo  – ngày 3/6

THIÊN CHÚA CỦA SỰ SỐNG VÀ NIỀM HY VỌNG PHỤC SINH

Khi người ta sống lại từ cõi chết, thì chẳng cưới vợ lấy chồng, nhưng sẽ như các thiên thần trên trời” (Mc 12,25).

 2Tm 1,1-3.6-12; Mc 12,18-27

Lm.John Trần

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta trước một chân lý của đức tin Kitô giáo: niềm hy vọng vào sự phục sinh và sự sống đời đời. Trong bài Tin Mừng, nhóm Sa-đốc – những người không tin có sự sống lại – đã đến gặp Chúa Giêsu và đưa ra một câu chuyện giả định về một người đàn bà lần lượt lấy bảy anh em trai để chất vấn Ngài. Họ dùng nhãn quan trần tục, đầy giới hạn để bóp nghẹt mầu nhiệm mai hậu.

Trước ý đồ ấy, Chúa Giêsu không chỉ bác bỏ lối suy diễn sai lạc của họ mà còn khẳng định một thực tại hoàn toàn mới mẻ: “Khi người ta sống lại từ cõi chết, thì chẳng cưới vợ lấy chồng, nhưng sẽ như các thiên thần trên trời” (Mc 12,25). Ngài dẫn họ trở về với Kinh Thánh để công bố danh tính đích thực của Đấng Tối Cao: “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống” (Mc 12,27). Thiên Chúa của chúng ta là nguồn mạch sự sống, Ngài thông ban sự sống ấy cho con người và gìn giữ nó mãi mãi, vượt qua cả giới hạn của cái chết thể lý.

Chính niềm xác tín mãnh liệt vào Thiên Chúa của kẻ sống đã ban sức mạnh cho thánh Phaolô tông đồ khi ngài bị xiềng xích trong ngục tù. Trong bài đọc một, ngài đã nhắn nhủ người môn đệ trẻ Timôthê bằng những lời tràn đầy nhiệt huyết: “Vì lý do đó, tôi phải chịu những đau khổ này, nhưng tôi không xấu hổ, vì tôi biết tôi đã tin vào ai” (2Tm 1,12). Thánh Phaolô không đặt niềm tin vào một học thuyết trừu tượng, nhưng vào một Ngôi Vị sống động là Đức Kitô Phục Sinh – Đấng đã tiêu diệt sự chết và làm bừng sáng sự sống bất diệt.

Minh chứng hùng hồn nhất cho niềm hy vọng phục sinh này chính là mẫu gương của thánh Carôlô Lwanga và các bạn tử đạo xứ Uganda mà Giáo hội mừng kính hôm nay 3/6. Vào thế kỷ XIX, tại đất nước Uganda, bạo chúa Mwanga đã khơi dậy cuộc bách hại tàn khốc chống lại các Kitô hữu. Thánh Carôlô Lwanga, một  trong số hai mươi hai vị tử đạo được đức thánh cha Phaolô VI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1964, là một cận thần trẻ tuổi, cùng với các bạn của mình đã can đảm bảo vệ đức tin và sự khiết tịnh trước những đòi hỏi luân lý đầy tội lỗi của nhà vua. Dù phải đối mặt với án thiêu sống trên ngọn lửa hồng tại đồi Namugongo vào năm 1886, các ngài vẫn không hề oán hận, trái lại còn hát vang thánh vịnh ca tụng Chúa giữa khói lửa ngút trời. Các ngài chấp nhận để thân xác chịu thiêu rụi vì biết chắc rằng Thiên Chúa sẽ ban lại cho các ngài sự sống mới vinh hiển.

Kính thưa cộng đoàn, lời Chúa và gương các thánh tử đạo hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta nhìn lại thái độ sống đạo của mình. Nhiều khi chúng ta quá bận lòng, lo lắng về những sự thế gian mà quên đi đích đến tối hậu là Nước Trời. Khi đối diện với đau khổ, thử thách hay những bách hại ngấm ngầm về mặt đức tin trong môi trường sống, chúng ta có dám tuyên xưng như thánh Phaolô: “tôi biết tôi đã tin vào ai”?

Xin Chúa ban cho chúng ta một đức tin vững vàng vào Thiên Chúa của sự sống, để dẫu bước đi giữa muôn vàn biến động của cuộc đời, tâm hồn chúng ta vẫn tràn ngập niềm vui, bình an và niềm hy vọng phục sinh tươi sáng. Amen.

Thứ  Ba – Tuần IX – Mùa Thường Niên

Thứ Ba – Tuần XVII Mùa Thường Niên

TRẢ CHO THIÊN CHÚA HÌNH ẢNH CỦA NGÀI

 “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (Mc 12,17)

2Pr 3,12-15a.17-18; Mc 12,13-17

Trang Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã trả lời rất rõ ràng cho câu hỏi về việc nộp thuế cho hoàng đế Xê-da: “Có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không?” (Mc 12,14). Bằng câu trả lời đầy khôn ngoan: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (Mc 12,17), Chúa Giêsu không chỉ giải quyết một cái bẫy, mà Ngài còn làm rõ một chân lý đảo lộn mọi quan niệm trần thế về tự do và sự thuộc về.

Đồng tiền có khắc hình hoàng đế thì thuộc về hoàng đế, nhưng con người chúng ta, ngay từ thuở bình minh của công trình sáng tạo, đã được khắc ghi một hình ảnh linh thánh hơn rất nhiều: hình ảnh của Thiên Chúa Hằng Sống. Vì thế, trọn vẹn hữu thể, tâm trí và sự tự do của chúng ta thuộc về một mình Ngài.

Sự tự do đích thực của Kitô giáo hoàn toàn khác biệt với những định nghĩa mang tính tư tưởng hay ý thức hệ trần gian. Đôi khi, có những sự so sánh trần tục muốn đồng hóa ơn giải thoát của Đức Giêsu với các tư tưởng nhân loại về tự do dân tộc hay giải phóng xã hội. Đó là một sự nhầm lẫn sâu sắc về mặt thần học. Đức Giêsu Kitô không đến thế gian như một nhà cách mạng trần gian hay một vĩ nhân lập thuyết để đem lại một thứ tự do thuần túy trần thế, vốn dĩ đầy giới hạn và mang tính giai đoạn. Ngài đến để giải thoát con người khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết, đưa chúng ta vào phẩm giá làm con cái Thiên Chúa.

Trong bài Huấn từ buổi đọc kinh Truyền Tin tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 18 tháng 10 năm 2020, Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích rõ ràng bổn phận của chúng ta đối với Thiên Chúa và làm sáng tỏ căn tính này: “Trên đồng xu của thuế có hình Xê-da, nhưng Đức Giê-su nhắc nhở chúng ta rằng trong mỗi người đều mang một hình ảnh khác — chúng ta mang nó trong trái tim, trong tâm hồn — đó là hình ảnh của Thiên Chúa, và do đó, mỗi người đều mang ơn Ngài, và chỉ riêng Ngài mà thôi, về sự tồn tại của mình, về sự sống của mình” [*].

Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định rằng việc trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Ngài chính là dâng trả trái tim, tâm trí và sự tự do cho Ngài, chứ không bao giờ để cho bất cứ hệ tư tưởng hay ngẫu tượng trần gian nào chiếm đoạt và định hình. Khi con người cố tình đặt các tư tưởng của phàm nhân ngang hàng với mạc khải của Thiên Chúa, chúng ta đang vô tình thu hẹp ơn cứu độ vĩ đại thành những khẩu hiệu mang tính thời thế.

Thánh Phêrô trong bài đọc một đã căn dặn đoàn chiên phải tỉnh thức: “Anh em thân mến, trong khi mong đợi ngày đó, anh em hãy cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an” (2Pr 3,14). Bình an của người Kitô hữu không dựa vào các thể chế hay học thuyết trần gian hạn hẹp nào, mà dựa vào niềm hy vọng vững chắc rằng chúng ta thuộc trọn về Chúa.

Ước gì lời Chúa hôm nay thức tỉnh tâm hồn chúng ta, giúp chúng ta can đảm khước từ những ngẫu tượng trần thế để luôn biết trân trọng phẩm giá cao quý của mình, sống công chính giữa đời nhưng tâm hồn luôn hướng trọn về cội nguồn tình yêu là Thiên Chúa Ba Ngôi.

Xin Đức Mẹ Maria chí thánh giúp chúng ta tránh xa mọi sự giả dối và trở thành những công dân trung thực và có ích cho xã hội. Và xin Mẹ nâng đỡ chúng ta, những môn đệ của Chúa Kitô, trong sứ mệnh làm chứng rằng Thiên Chúa là trung tâm và là ý nghĩa của cuộc sống” [*].

Amen.


[*]. Đức Thánh Cha Phanxicô, Huấn từ trong buổi đọc kinh Truyền Tin, Quảng trường Thánh Phêrô, ngày 18 tháng 10 năm 2020. Truy cập từ https://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2020/documents/papa-francesco_angelus_20201018.html

Thứ  Hai – Tuần IX – Mùa Thường Niên

Thánh Justinô, Tử đạo - Lễ Nhớ - ngày 1/6

Thánh Justinô, Tử đạo – Lễ Nhớ – ngày 1/6

CHÂN LÝ TÌNH YÊU CHIẾN THẮNG HẬN THÙ

Tảng đá thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (Mc 12,10).

2Pr 1,2-7; Mc 12,1-12

Lm.John Trần

Trong buổi Tiếp kiến Chung ngày 21 tháng 3 năm 2007[*], Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã cho chúng ta biết về Thánh Justin rằng: “Thánh Justin, nhà triết học và tử đạo, vị giáo phụ quan trọng nhất trong số các giáo phụ biện hộ đức tin thế kỷ thứ hai. Thuật ngữ “nhà biện hộ” dùng để chỉ những nhà văn Kitô giáo cổ đại đã ra sức bảo vệ tôn giáo mới khỏi những lời buộc tội nặng nề từ cả người ngoại đạo và người Do Thái, và truyền bá giáo lý Kitô giáo theo cách phù hợp với văn hóa thời bấy giờ…

Justin sinh vào khoảng năm 100 gần thành phố cổ Shechem, Samaria, thuộc vùng Đất Thánh; ông đã dành một thời gian dài để tìm kiếm chân lý, trải nghiệm nhiều trường phái triết học khác nhau của Hy Lạp.

Cuối cùng, như chính ông kể lại trong những chương đầu của cuốn Đối thoại với Tryphon , một nhân vật bí ẩn, một ông lão ông gặp trên bờ biển, ban đầu đã dẫn ông vào một cuộc khủng hoảng bằng cách chỉ ra rằng con người không thể thỏa mãn khát vọng hướng đến thần thánh chỉ bằng sức riêng của mình. Sau đó, ông lão chỉ cho ông thấy các nhà tiên tri cổ đại là những người mà ông cần tìm đến để tìm ra con đường đến với Chúa và “triết lý chân chính”.

Khi tiễn biệt, ông lão dặn dò anh hãy cầu nguyện để cánh cửa ánh sáng sẽ mở ra cho anh.

Câu chuyện này báo trước một sự kiện quan trọng trong cuộc đời Justin: sau một hành trình triết học dài, một cuộc tìm kiếm chân lý, ông đã đến với đức tin Kitô giáo. Ông thành lập một trường học ở Rome, nơi ông dạy dỗ học sinh miễn phí về tôn giáo mới, được coi là triết lý chân chính. Quả thực, trong đó ông đã tìm thấy chân lý, và do đó, cả nghệ thuật sống đức hạnh.

  Thánh Justin  bị tố cáo và bị chặt đầu vào khoảng năm 165 dưới triều đại của Marcus Aurelius, vị hoàng đế kiêm triết gia mà Justin đã viết một trong những tác phẩm Apologia của mình gửi đến [*]…

Cuộc đời của Thánh Justin và các bài đọc Lời Chúa hôm nay soi sáng cho chúng ta một chân lý tuyệt hảo: Chỉ có tình yêu mới hóa giải được hận thù, và chỉ có chân lý của Đức Kitô mới mang lại ý nghĩa đích thực cho sự hiện hữu của nhân loại.

Trình thuật Tin Mừng Thứ  Hai – Tuần IX – Mùa Thường Niên  theo thánh Máccô đưa chúng ta vào bối cảnh một vườn nho. Những tá điền được ông chủ tin tưởng giao phó cơ ngơi, nhưng lòng tham và sự đố kỵ đã biến họ thành những kẻ tàn nhẫn. Họ thẳng tay đánh đập các đầy tớ và cuối cùng giết luôn cả người con thừa tự với ảo tưởng sẽ chiếm đoạt được gia tài. Dụ ngôn này vạch trần âm mưu của những nhà lãnh đạo đương thời đang tìm cách thủ tiêu Đức Giêsu. Thế nhưng, điều kỳ diệu của ơn cứu độ nằm ở chỗ: Thiên Chúa không dùng bạo lực để đáp trả bạo lực. Ngài đã biến cái chết đau thương của Người Con Một thành hiến lễ tình yêu cao cả nhất. Chính “Tảng đá thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (Mc 12,10). Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá không phải là một sự thất bại, mà là sự chiến thắng vinh quang của tình yêu trên hận thù và sự chết.

Thánh Justinô mà chúng ta mừng kính hôm nay đã thấu hiểu trọn vẹn tình yêu và chân lý ấy. Dù xuất thân từ dân ngoại và say mê triết học, ngài nhận ra rằng chỉ có Kitô giáo mới giải đáp được những khao khát sâu xa nhất của tâm hồn. Khi bị điệu ra trước quan tổng trấn và đối diện với cái chết, ngài đã dõng dạc tuyên xưng: “Người có suy nghĩ đúng đắn không vì sự giả trá mà chối bỏ sự thật.” Sự kiên vững của thánh nhân chính là hoa trái của một đời sống không ngừng thăng tiến trong ân sủng, đúng như lời thánh Phêrô mời gọi: “Anh em hãy đem tất cả nhiệt tình, làm sao để khi đã có lòng tin thì có thêm đức hạnh, có đức hạnh rồi thì thêm hiểu biết” (2 Pr 1,5).

Đức tin đòi hỏi chúng ta phải dấn thân và hành động. cũng trong buổi Tiếp kiến Chung ngày 21 tháng 3 năm 2007, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã dạy rằng: “mặc dù Justin phản bác triết học Hy Lạp và những mâu thuẫn của nó, ông vẫn kiên quyết hướng mọi chân lý triết học về Ngôi Lời , đưa ra lý do cho “tuyên bố” đặc biệt về chân lý và tính phổ quát của tôn giáo Kitô giáo. Nếu Cựu Ước hướng về Chúa Kitô, giống như biểu tượng là kim chỉ nam cho thực tại được biểu hiện, thì triết học Hy Lạp cũng hướng về Chúa Kitô và Phúc Âm, giống như bộ phận luôn cố gắng hòa nhập với toàn thể..” [*] Sự thật ấy mời gọi mỗi người chúng ta từ bỏ những toan tính, ghen ghét và bạo lực trong đời sống gia đình cũng như cộng đoàn. Hận thù chỉ đào thêm những nấm mồ ngăn cách, trong khi tình yêu bao dung sẽ `xây dựng những nhịp cầu của sự hiệp nhất và bình an.

Nguyện xin Chúa Thánh Thần, nhờ lời chuyển cầu của thánh Justinô tử đạo, khơi lên trong tâm hồn chúng ta ngọn lửa yêu mến thiết tha. Xin cho chúng ta luôn biết dùng sự hiểu biết và ơn thánh Chúa ban để sống bác ái, biến thù thành bạn, và dấn thân làm chứng cho một Thiên Chúa là cội nguồn của Chân lý và Tình yêu. Amen.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[*].Đức Thánh Cha Biển Đức XVI . Huấn từ trong buổi Tiếp kiến Chung ngày 21 tháng 3 năm 2007. Vatican. Truy cập từ:  https://www.vatican.va/content/benedict-xvi/en/audiences/2007/documents/hf_ben-xvi_aud_20070321.html

CHÚA NHẬT CHÚA BA NGÔI – NĂM A

CHÚA NHẬT CHÚA BA NGÔI – NĂM A

MẦU NHIỆM BA NGÔI LÀ MẦU NHIỆM CỦA TÌNH YÊU CỨU ĐỘ

 “Ai tin Ngài, thì không bị luận phạt, không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”.

Xh 34, 4b-6. 8-9; 2 Cr 13, 11-13; Ga 3, 16-18

Lm.John Trần

Giai thoại về thánh Augustinô, một vị đại tiến sĩ của Hội Thánh, luôn là một hình ảnh sống động mỗi khi chúng ta mừng lễ Chúa Ba Ngôi. Chuyện kể rằng, khi đang dạo bước trên bãi biển và vắt óc suy nghĩ để viết một cuốn sách giải thích cho tường tận về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, ngài bắt gặp một em bé. Em dùng một chiếc vỏ sò, múc nước biển đổ vào một cái lỗ nhỏ xíu trên cát. Thấy lạ, ngài hỏi: “Con đang làm gì vậy?”. Đứa bé hồn nhiên đáp: “Con muốn múc hết nước đại dương để đổ vào cái lỗ này!”. Thánh nhân bật cười: “Ồ, con ơi! Sao chiếc lỗ nhỏ xíu kia có thể chứa nổi cả đại dương mênh mông?”. Đứa bé nhìn ngài và mỉm cười: “Thưa ngài, việc con làm xem ra còn dễ hơn việc ngài đang muốn dùng trí khôn giới hạn của con người để thấu hiểu mầu nhiệm cao cả của Thiên Chúa”.

Nghe những lời ấy, thánh nhân bừng tỉnh. Ngài nhận ra rằng, đối diện với Thiên Chúa, trí khôn nhân loại chỉ là một chiếc lỗ cát bé nhỏ trước đại dương bao la. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là một bài toán hóc búa để giải mã kiểu như: làm sao 3 lại là 1, hay 1 lại là 3. Đó là mầu nhiệm của đức tin, mà như thánh Augustinô đã thốt lên: “Tôi tin để hiểu và hiểu để tin“.

Quả thực, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là nền tảng cốt lõi của đạo chúng ta. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo đã khẳng định một cách rõ ràng: “Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô giáo. Đó là mầu nhiệm của bản thể Thiên Chúa.” Mầu nhiệm ấy vĩ đại không phải vì nó xa xôi, nhưng vì đó là mầu nhiệm của một tình yêu trao ban tột cùng.

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa mạc khải Người là Đấng Tạo Hóa duy nhất, nhưng Người không xa cách. Sách Xuất Hành hôm nay diễn tả một Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn khi Người đi ngang qua Môsê và xưng danh: “Đức Chúa! Đức Chúa! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Sự “nhân hậu và từ bi” ấy đã được tỏ bày trọn vẹn và hoàn hảo nhất qua Đức Giêsu Kitô. Chính Chúa Giêsu đã từ từ vén bức màn mầu nhiệm, cho chúng ta biết Ngài là Con Một của Chúa Cha, và xin Chúa Cha sai Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ đến với Giáo Hội.

Thiên Chúa của chúng ta không phải là một vị thần cô độc trên chín tầng trời lạnh lẽo. Người là một Gia đình Tình Yêu: Chúa Cha yêu thương tạo dựng, Chúa Con yêu thương cứu chuộc, và Chúa Thánh Thần yêu thương thánh hóa. Trình thuật Tin Mừng thánh Gioan hôm nay công bố một chân lý ngọt ngào mang lại niềm hy vọng tuyệt đối cho nhân loại: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3,16). Sự sống đời đời đó chính là được ngụp lặn trong đại dương tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Ngài đến không phải để lên án, không phải để luận phạt những yếu đuối của chúng ta, nhưng để băng bó, để nâng đỡ và để cứu độ.

Trong buổi đọc kinh Truyền Tin ngày 7 tháng 6 năm 2020, Đức Thánh Cha Phanxicô đã dạy rằng:

Trong cuộc đối thoại ngắn với Nicôđêm, Chúa Giêsu tự giới thiệu mình là Đấng hoàn thành kế hoạch cứu độ của Chúa Cha dành cho thế gian. Ngài khẳng định: “Vì Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (câu 16). Những lời này nhằm chỉ ra rằng hành động của ba Ngôi Thiên Chúa — Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần — đều nằm trong một kế hoạch yêu thương duy nhất, cứu rỗi nhân loại và thế giới; đó là kế hoạch cứu rỗi dành cho chúng ta.

Thế giới mà Thiên Chúa tạo dựng vốn tốt đẹp, nhưng sau tội lỗi, thế giới bị vấy bẩn bởi sự xấu xa và suy đồi. Chúng ta, cả nam lẫn nữ, đều là tội nhân; vì vậy, Thiên Chúa có thể can thiệp để phán xét thế giới, tiêu diệt điều ác và trừng phạt tội nhân. Thay vào đó, Ngài yêu thương thế giới, bất chấp tội lỗi của nó; Thiên Chúa yêu thương mỗi người chúng ta ngay cả khi chúng ta phạm sai lầm và xa cách Ngài. Chúa Cha yêu thương thế giới đến nỗi, để cứu rỗi nó, Ngài đã ban cho điều quý giá nhất đối với Ngài: Con Một của Ngài, Đấng hi sinh mạng sống mình vì nhân loại, sống lại, trở về với Chúa Cha và cùng với Ngài phái Chúa Thánh Thần đến. Do đó, Ba Ngôi là Tình Yêu, hoàn toàn phục vụ thế giới, mà Ngài muốn cứu rỗi và tái tạo. Và hôm nay, khi nghĩ về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, chúng ta nghĩ về tình yêu của Thiên Chúa! Và sẽ thật tuyệt vời nếu chúng ta cảm nhận được tình yêu thương: “Chúa yêu thương tôi!”*

Khi chiêm ngắm Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta được mời gọi nhìn lại đời sống của chính mình. Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của một Thiên Chúa Hiệp Thông, do đó, chúng ta không thể sống hạnh phúc nếu tự nhốt mình trong sự ích kỷ, kiêu ngạo hay hận thù.

Lời cầu chúc của thánh Phaolô trong bài đọc hai chính là kim chỉ nam cho đời sống cộng đoàn giáo xứ và gia đình chúng ta: “Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em.” (2Cr 13,13). Sống mầu nhiệm Ba Ngôi chính là sống yêu thương. Chỉ những ai biết sống vị tha, biết trao ban nụ cười, biết mở lòng ra để tha thứ và nâng đỡ anh chị em mình, người đó mới đang thực sự sống trong cung lòng của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Kính thưa anh chị em, xin cho mỗi lần chúng ta làm dấu Thánh Giá: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần“, chúng ta không làm như một thói quen vô hồn, nhưng ý thức sâu xa rằng mình đang được bao bọc bởi một Tình Yêu vĩ đại. Nguyện xin tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa tuôn đổ bình an, niềm vui và ân sủng trên mọi gia đình chúng ta, hôm nay và mãi mãi. Amen.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

* Đức Thánh Cha Phanxicô ,Huấn từ trong buổi đọc kinh Truyền Tin ngày 7 tháng 6 năm 2020. Vatican. Truy cập từ https://www.vatican.va/content/francesco/en/angelus/2020/documents/papa-francesco_angelus_20200607.html

Thứ  Bảy – Tuần VIII – Mùa Thường Niên

Thứ Bảy - Tuần XV - Mùa Thường Niên

THẬT LÒNG TÌM KIẾM CHÂN LÝ

“Nếu ta nói: ‘Bởi trời’, thì ông ấy sẽ nói: ‘Vậy sao các ông không tin ông ấy?’ Còn nếu ta nói: ‘Bởi người ta’, thì họ lại sợ dân chúng” (Mc 11,31-32).

Gđt 17,20b-25; Mc 11,27-33

Lm. John Trần

Sau khi Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem, những người lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ đã vô cùng tức giận. Khung cảnh Tin Mừng hôm nay khắc họa cuộc chất vấn đầy căng thẳng giữa họ và Chúa Giêsu: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy, hay ai đã cho ông quyền làm các điều ấy?” (Mc 11,28).

Thay vì trả lời trực tiếp, Chúa Giêsu đặt ngược lại cho họ một câu hỏi về phép rửa của thánh Gioan Tẩy Giả. Ngài làm vậy không phải để né tránh, mà để mời gọi họ bước vào một cuộc hoán cải thực sự. Thế nhưng, thái độ của các thượng tế và kinh sư đã bộc lộ sự thật cay đắng trong lòng họ. Họ bắt đầu toan tính hơn thiệt: “Nếu ta nói: ‘Bởi trời’, thì ông ấy sẽ nói: ‘Vậy sao các ông không tin ông ấy?’ Còn nếu ta nói: ‘Bởi người ta’, thì họ lại sợ dân chúng” (Mc 11,31-32). Và cuối cùng, họ buông ra một câu trả lời dối trá và hèn nhát: “Chúng tôi không biết” (Mc 11,33).

Kính thưa cộng đoàn, các nhà lãnh đạo Do Thái đã đóng kín cửa lòng mình. Họ không thực sự tìm kiếm chân lý, mà chỉ tìm cách bảo vệ quyền lợi, danh tiếng và sự an toàn của bản thân. Khi sự thật đòi hỏi họ phải thay đổi lối sống và từ bỏ đặc quyền, họ đã chọn cách quay lưng và chối từ.

Hành xử của họ cũng chính là lời cảnh tỉnh sâu sắc cho mỗi người chúng ta. Nhiều khi trong đời sống đức tin, chúng ta cũng rơi vào cám dỗ thích sự an toàn giả tạo hơn là đối diện với ánh sáng thật. Chúng ta lảng tránh Lời Chúa khi Lời ấy chạm đến những thói hư tật xấu, những lợi ích cá nhân hay những bất công mà ta đang đồng lõa. Chúng ta chọn cách nói “tôi không biết” để khỏi phải dấn thân, khỏi phải chịu trách nhiệm và khỏi phải thay đổi.

Tuy nhiên, đạo Công giáo của chúng ta không phải là một hệ thống lý thuyết để tranh luận, mà là sự gắn kết với một Ngôi Vị, chúng ta phải sống trong sự thật. Trong buổi Tiếp kiến Chung ngày 14 tháng 11 năm 2018, khi chia sẻ về giới răn thứ tám, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắn nhủ rằng:

Chúng ta hãy tự hỏi: những hành động, lời nói và lựa chọn của chúng ta – những người Kitô hữu – chứng minh cho những chân lý nào? Ai cũng có thể tự hỏi: Tôi có phải là người làm chứng cho chân lý, hay tôi chỉ là kẻ nói dối đội lốt người chân thật ? Ai cũng tự hỏi mình như vậy. Chúng ta, những người Kitô hữu, không phải là những người nam nữ đặc biệt. Tuy nhiên, chúng ta là con cái của Cha trên trời, Đấng nhân từ và không bao giờ làm chúng ta thất vọng, và gieo vào lòng chúng ta tình yêu thương anh chị em. Chân lý này không được thể hiện nhiều bằng lời nói; đó là một lối sống, một cách sống, và được thấy trong từng hành động (cf. Jas 2:18). Người đàn ông này là người đàn ông chân thật, người phụ nữ kia là người phụ nữ chân thật : người ta có thể thấy điều đó. Nhưng làm sao, nếu họ không mở miệng ra? Nhưng họ cư xử như những người nam nữ chân thật . Họ nói sự thật, họ hành động với sự thật. Đó là một cách sống tốt đẹp cho chúng ta..” [*]. Khước từ sự thật chính là khước từ Chúa Giêsu, khước từ nguồn mạch của bình an và hy vọng.

Dám đối diện với chân lý có thể khiến chúng ta xấu hổ khi nhận ra yếu đuối của mình, hoặc đôi khi đòi hỏi sự hy sinh, nhọc nhằn. Nhưng chỉ có sự thật mới mang lại tự do đích thực. Xin Chúa Thánh Thần ban ơn can đảm, soi sáng tâm trí để chúng ta không ngừng khao khát tìm kiếm Chúa, sống chân thành với Ngài, với tha nhân và với chính mình, để đời ta luôn được tỏa sáng niềm vui của Tin Mừng cứu độ. Amen.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[*]. Đức Thánh Cha Phanxicô, Huấn từ trong buổi Tiếp kiến Chung ngày 14 tháng 11 năm 2018. Vatican. Truy cập từ https://www.vatican.va/content/francesco/en/audiences/2018/documents/papa-francesco_20181114_udienza-generale.html