Thứ Hai – Tuần 4 – Mùa Phục Sinh

Thứ Hai - Tuần VII - Mùa Phục Sinh

CHỈ CÓ MỘT ĐOÀN CHIÊN VÀ MỘT MỤC TỬ

“Tôi còn có những chiên khác không thuộc rằn này; Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử.” (Ga 10,16).

Cv 11,1-18; Ga 10,11-18

Lm. John Trần

Tiếp nối tâm tình của Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, các bài đọc lời Chúa ngày hôm nay mở rộng tầm nhìn của chúng ta về một vị Mục Tử không chỉ nhân hậu mà còn sẵn lòng phá đổ mọi rào cản để tìm kiếm chiên lạc.

1. Sự hy sinh tự nguyện của Mục Tử Nhân Lành

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định một chân lý cốt lõi: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho chiên.” (Ga 10,11). Sự khác biệt giữa người mục tử thật và kẻ chăn thuê nằm ở chữ “tình yêu”. Kẻ chăn thuê làm việc vì tiền công, nên khi thấy sói đến, họ tháo chạy để bảo toàn mạng sống. Ngược lại, Chúa Giêsu gắn bó với đoàn chiên bằng mối tương quan mật thiết như giữa Ngài và Chúa Cha.

Đáng chú ý nhất là cụm từ: “Mạng sống của Tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.” (Ga 10,18). Đây là một tình yêu chủ động. Chúa không bị ép buộc phải chết, nhưng Ngài tự nguyện bước vào khổ hình vì Ngài quý trọng linh hồn mỗi chúng ta hơn cả mạng sống mình. Trong Sắc lệnh về Chức vụ và Đời sống Linh mục Presbyterorum Ordinis, Công đồng Vatican II đã nhắc nhở rằng các linh mục, khi rập khuôn theo hình ảnh Chúa Kitô, phải hiến dâng chính mình cho đoàn chiên qua việc cử hành các mầu nhiệm thánh và đời sống phục vụ (Vatican II, 1965).

2. Đoàn chiên không biên giới

Bài đọc I từ sách Công vụ Tông đồ cho thấy một bước ngoặt trong lịch sử Giáo hội sơ khai. Thánh Phêrô đã phải đối mặt với sự chỉ trích của những người Do Thái ưu tuyển vì Ngài đã đến nhà và ăn uống với những người ngoại bang. Tuy nhiên, qua thị kiến về tấm khăn đựng đủ loại động vật, Phêrô hiểu rằng: “Cái gì Thiên Chúa đã tuyên bố là sạch, thì anh đừng gọi là ô uế.” (Cv 11,9).

Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng cũng đã tiên báo điều này: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc rằn này; Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử.” (Ga 10,16). Ơn cứu độ của Thiên Chúa là một vòng tay mở rộng, không phân biệt chủng tộc, màu da hay địa vị xã hội.

Theo gương Mục tử Nhân Lành, Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Số 24, Tông huấn Evangelii Gaudium, đã mạnh mẽ kêu gọi một “Giáo hội đi ra”, “Hội Thánh “đi ra” là cộng đoàn các môn đệ truyền giáo, những người đi bước đầu, tham gia, đồng hành, sinh hoa trái và ăn mừng. Cộng đoàn cảm nghiệm được rằng Chúa đã đi bước trước, Người đã đi trước vì yêu (x. 1 Ga 4, 10), và vì thế, cộng đoàn biết đi về phía trước, biết làm thế nào để đi bước trước mà không sợ hãi, đi ra gặp gỡ, tìm kiếm những người xa cách mình, và đến ngã ba đường để mởi những ngưởi bị ruồng bỏ. […] Cộng đoàn rao giảng Tin Mừng, qua việc tham gia vào cuộc sống hằng ngày của những người khác bằng việc làm và cử chỉ của mình, nó rút ngắn những khoảng cách, tự hạ mình xuống đến nỗi chịu sỉ nhục nếu cần, và chấp nhận đời sống con người, chạm đến thân xác đau khổ của Đức Kitô trong những người khác. Vì thế, các nhà truyền giáo có “mùi của con chiên” và chiên nghe tiếng họ. [….] Cộng đoàn đồng hành với nhân loại trong tất cả mọi tiến trình của nó, bất kể khó khăn và kéo dài đến đâu đi nữa.” Trung tâm của Giáo Hội lại ở bên ngoài Giáo Hội! Một chiều hướng quy Giáo Hội chẳng mang chất truyền giáo gì cả” (ĐTC. Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium , 2013).

3. Lời mời gọi cho mỗi chúng ta

Kính thưa cộng đoàn, là những con chiên trong đoàn chiên của Chúa, chúng ta được mời gọi sống theo hai thái độ:

Thứ nhất, Tin tưởng tuyệt đối vào sự dẫn dắt của Chúa, ngay cả khi đi qua thung lũng bóng đêm, vì Ngài là Mục Tử đã chiến thắng cái chết.

Thứ hai, Mở rộng tâm hồn để đón nhận anh chị em mình. Đừng để những định kiến hay sự hẹp hòi biến chúng ta thành những “hàng rào” ngăn cản người khác đến với Chúa.

Xin Chúa cho các mục tử trong Giáo hội hôm nay luôn mang trái tim của Chúa Giêsu, và cho mỗi người chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa để cùng nhau tiến về đồng cỏ nước trời. Amen.

Giảng lễ hôn Phối – Lễ thánh sử Marcô – Ngày 25/4

Bài giảng thánh lễ hôn Phối – lễ kính thánh sử Marcô 25/4

HÔN NHÂN CÔNG GIÁO – LÀM CHỨNG NHÂN CHO CHÚA GIỮA TRẦN GIAN

“Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh.” (Ep 5,25).

Lm. Gioan Trần

Hôm nay, trong bầu khí linh thiêng của ngày lễ Thánh Marcô Tông đồ, chúng ta cùng hiện diện nơi đây để chứng kiến một giao ước tình yêu cao quý của đôi bạn. Và thật ý nghĩa khi lễ cưới của hai con trùng vào ngày 25/4 -Ngày Giáo hội kính Thánh Marcô – 1 trong 4 vị Thánh sử đã viết Tin Mừng về cuộc đời Chúa Giêsu.

Đặc biệt hơn, với con, người Chị em tân tòng vừa gia nhập đại gia đình Giáo hội, ngày hôm nay không chỉ là khởi đầu của một gia đình mới, mà còn là khởi đầu của một sứ vụ: Là cùng với Chồng của mình, cả hai trở thành chứng nhân cho Tin Mừng ngay trong chính mái ấm của mình.

Thánh Marcô đã kết thúc sách Tin Mừng của ngài bằng mệnh lệnh của Chúa Phục Sinh: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.” (Mc 16,15). Có bao giờ hai con tự hỏi, một đôi vợ chồng trẻ sẽ “loan báo Tin Mừng” như thế nào giữa bộn bề cuộc sống?

Loan báo Tin Mừng không chỉ là nói về Chúa bằng lời, mà là sống bằng một tình yêu hiến tế – hiến tế ngay trong chính đời sống hôn nhân đầy những khó khăn nhưng Thánh thiện của mình.

Thánh Phaolô đã dạy rằng: “Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh.” (Ep 5,25). Tình yêu của hai con từ nay không còn là chuyện riêng của hai người, nhưng là hình ảnh phản chiếu tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại – của Đức Kitô yêu thương Hội Thánh. Khi các con thương yêu nhau, kiên nhẫn với nhau, khi các con tha thứ cho những thiếu sót của nhau, đó là lúc các con đang viết tiếp những trang “Tin Mừng sống” như Thánh Marcô đã làm.

Các con hãy luôn nhớ rằng: “Viễn tượng của Hôn nhân Kitô giáo không đơn thuần chỉ là cuộc giao duyên giữa người nam với người nữ, nhưng là một tình yêu được se kết bởi chính lựa chọn nên một với nhau trong Đấng Tạo Thành của đôi hôn nhân. Mặc cho những đỗ vỡ, như đã bao lần xảy ra khi Dân phản bội Thiên Chúa, thì tự bản chất Người vẫn là Đấng tín trung, Người không bao giờ bội tín vì Người không thể phản bội chính mình”.[1]

Trong Tông huấn Amoris Laetitia (Niềm vui của Tình yêu), Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắn nhủ: “Tình yêu vợ chồng không chỉ là một lời hứa, mà là một sự cam kết lớn lao để cùng nhau xây dựng một điều gì đó trường tồn….Sau tình yêu kết nối chúng ta với Thiên Chúa, tình yêu vợ chồng là “hình thức tình bạn cao cả nhất”.Đó là một sự kết hợp sở hữu tất cả các đặc điểm của một tình bạn tốt đẹp:quan tâm đến lợi ích của người kia, sự tương hỗ, sự thân mật, ấm áp, ổn định và sự tương đồng được sinh ra từ một cuộc sống chung. Hôn nhân kết hợp với tất cả những điều này một sự độc quyền không thể chia lìa được thể hiện trong cam kết vững chắc để chia sẻ và cùng nhau định hình toàn bộ cuộc sống. Chúng ta hãy thành thật và thừa nhận những dấu hiệu cho thấy điều này là đúng. Những người yêu nhau không coi mối quan hệ của họ chỉ là tạm thời.” [2]

Với con, người Vợ mới đón nhận ánh sáng đức tin, con được mời gọi noi gương Thánh Marcô – người dù có những lúc thăng trầm trong hành trình theo Chúa, nhưng cuối cùng đã trở thành người trợ tá đắc lực cho các Thánh Tông đồ. Hãy là chỗ dựa đức tin vững chắc cho Chồng con, cho con cái con… cùng nhau xây dựng một “Hội thánh tại gia” ngập tràn niềm vui.

Thánh Phêrô đã khuyên nhủ: “Anh em hãy mặc lấy đức khiêm nhường để đối xử với nhau” (1Pr 5,5). Đây chính là bí quyết của hạnh phúc. Hôn nhân không phải là nơi khẳng định cái tôi, mà là nơi học cách cúi xuống phục vụ người mình yêu. Cũng thế, Tin Mừng mà Thánh Marcô rao giảng chính là Tin Mừng về một Thiên Chúa đã tự hạ mình vì con người.

Hai con thân mến, thế giới hôm nay đang khát khao nhìn thấy những chứng nhân của hy vọng. Một gia đình công giáo hạnh phúc, biết yêu thương và đặt Thiên Chúa làm trung tâm chính là bài giảng hùng hồn nhất.

Nguyện xin Thánh Marcô cầu thay nguyện giúp cho hai con. Xin Chúa chúc phúc cho tình yêu này, để mỗi ngày qua đi, cuộc đời của hai con sẽ là một bản Tin Mừng đẹp đẽ, loan báo cho mọi người biết rằng: Thiên Chúa là Tình Yêu, và Tình Yêu ấy đang hiện hữu ngay trong mái ấm của hai con.

Amen.


Tham khảo tài liệu

[1] Linh mục Jude Siciliano, OP, trong bài suy niệm Lời Chúa vào Chúa Nhật 27 Thường niên B (VietCatholic News 02/10/2003) 

[2]. ĐTC.Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia (Niềm vui của Tình yêu), 2016, số 123).

Chúa Nhật thứ IV-  Mùa Phục Sinh – Năm A

Chúa Nhật thứ IV-  Mùa Phục Sinh – Năm A

CHÚA GIÊSU – VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH

“Thật, Tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào.” (Ga 10,7).

Cv 2,14a.36-41 ; 1Pr 2,20b-25; Ga 10,1-10

Lm. John Trần

Trong bầu khí hân hoan của mùa Phục Sinh, Giáo hội dành riêng Chúa Nhật IV này để tôn vinh Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành, đồng thời thiết tha mời gọi chúng ta cầu nguyện cho ơn gọi linh mục và tu sĩ. Hình ảnh người chăn chiên và đàn chiên vốn dĩ rất gần gũi với dân Do Thái xưa, nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa hình ảnh ấy lên một ý nghĩa mới.

1. Chúa Giêsu – Cửa dẫn vào đồng cỏ sự sống

Mở đầu bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định: “Thật, Tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào.” (Ga 10,7).

Khẳng định này làm tôi nhớ câu chuyện kể về một du khách đến Palestine, thấy người mục tử nằm ngủ ngay lối ra vào duy nhất của trại chiên không có cánh cửa gỗ. Khi được hỏi cửa đâu, người mục tử trả lời: “Chính tôi là cửa. Không một con chiên nào ra hay sói nào vào mà không bước qua thân xác tôi.” Chúa Giêsu chính là cái “Cửa” sống động đó. Ngài không chỉ là người canh gác, mà Ngài là lối đi duy nhất dẫn đến ơn cứu độ. Ngài tuyên bố: “Ai qua Tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và tìm được đồng cỏ.” (Ga 10,9). Trong thế giới hôm nay, có biết bao nhiêu “cánh cửa” hào nhoáng đang mời mọc chúng ta: cửa của sự giàu sang bất chính, cửa của hưởng thụ ích kỷ, hay những lối vào của các ý hệ sai lạc. Nhưng Chúa Giêsu cảnh báo rằng những kẻ không đi qua cửa mà leo rào vào đều là kẻ trộm và kẻ cướp. Chỉ có qua “Cửa Giêsu”, qua việc gắn bó với Người, chúng ta mới tìm thấy sự tự do đích thực và “được sống dồi dào” (Ga 10,10).

2.Lắng nghe tiếng gọi của Mục Tử Nhân Lành

Thách đố của chúng ta hôm nay là: Làm sao nhận ra tiếng Chúa giữa một thế giới quá nhiều tạp âm?

Không chỉ là cánh cửa, Chúa Giêsu còn là vị Mục Tử biết rõ từng con chiên một. Ngài “gọi tên từng con chiên một và dẫn chúng ra.” (Ga 10,3). Thiên Chúa không coi chúng ta là một đám đông vô danh. Ngài biết rõ nỗi đau, niềm hy vọng, và cả những vết sẹo trong tâm hồn mỗi người. Như Môsê xưa dẫn dân ra khỏi kiếp nô lệ, Chúa Giêsu đi trước chúng ta, đối đầu với hiểm nguy để bảo vệ đàn chiên.

Thánh Phêrô trong bài đọc II đã nhắc nhở chúng ta về cái giá của sự bảo vệ đó: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây gỗ… vì anh em đã được chữa lành nhờ những vết thương của Người.” (1 Pr 2,24). Vị Mục Tử này không đứng từ xa để điều khiển, nhưng Ngài dùng chính mạng sống mình để làm rào chắn bảo vệ chúng ta khỏi sói dữ là ma quỷ và sự chết.

Cộng đoàn thân mến, Tin Mừng ghi lại: “Chiên nghe tiếng của người chăn… và chiên theo người ấy vì chúng nhận biết tiếng của người.” (Ga 10,3-4).

Qua việc Tử nạn và Phục sinh, Ngài chứng tỏ mình là Mục tử thật, vì đối với Ngài mỗi người đều quí giá vô ngần. Ngài sẵn sàng hy sinh mạng sống vì chiên. Ngài chính là Vị Cứu thế đến cứu dân khỏi tội và đưa dân vào hạnh phúc trường sinh. Vậy tại sao chúng ta còn chần chờ gì không bước theo Ngài?

Một gia đình Khỉ nọ sống giữa một khu rừng già rậm rạp. Mùa đông đến, cả gia đình Khỉ rét run vì lạnh. Một đêm nọ, nhìn từ xa thấy một con Đóm Đóm đang bay lượn tưởng đó là cục than hồng. Dòng họ khỉ may mắn bắt lấy đem về cho thêm củi rơm và ngồi bu quanh mà sưởi. Có một con Khỉ Đột kề miệng sát vào Đom Đóm mà thổi phì phò hy vọng lửa mau bùng cháy. Một con chim bay qua thấy vậy cất tiếng nói :

– Các bạn ơi, không phải lửa đâu, chú Đom Đóm đó. Nhưng bọn Khỉ không tin cứ chúi đầu vào thổi. Con chim lại bay đến nói đó là Đom Đóm. Tức giận vì lời dạy khôn của con Chim, bầy Khỉ tóm được con Chim vặn cổ chết toi. Thế là bọn Khỉ yên trí không bị ai quấy rầy cứ phỏng cổ mà thổi vào con Đom Đóm. Sáng ngày hôm sau, người ta thấy cả gia đình Khỉ chết cóng ngay bên cạnh con Đom Đóm !

Như con chim trong câu chuyện trên, Chúa Giêsu, vị Mục tử nhân lành, vì không muốn chúng ta phải hư mất và bị cắn xé bởi Sói dữ luôn rình rập, Ngài luôn ở cạnh ta để chiến đấu và bảo vệ chúng ta. Ngài luôn gọi con người quay về con đường của Ngài, tuy nhiên, rừng xanh bao la, hoa cỏ cám dỗ, nước suối mát mẻ quyến luyến, gió thổi vi vu và vách đá êm ái… tất cả níu kéo chiên của Chúa, chiên của Chúa không muốn nghe tiếng Ngài, chiên của Chúa đôi lúc có nghe cũng không quay lại theo Ngài, bởi nó đang say mê ngủ vùi trong sự yên tĩnh giả tạo, hay cũng có khi nó mải mê nghe tiếng của kẻ trộm, để rồi bị chúng dẫn tới những cánh đồng hoang, những khu rừng rậm đầy thú dữ, đó chính là cuộc sống bất công gian ác, những ý hệ lệch lạc, những kiểu thời trang dị hợm, thích hưởng thụ, gian dối và chỉ muốn thỏa mãn con người xác thịt v.v.

Quả thực, đôi khi chúng ta giống như gia đình khỉ trong câu chuyện ngụ ngôn, vì quá lạnh giá và u tối nên đã lầm tưởng con đom đóm là cục than hồng. Chúng ta mải mê thổi vào những niềm hy vọng giả tạo – tiền bạc, danh vọng, thú vui nhất thời – để rồi tâm hồn vẫn giá lạnh và chết dần mòn. Khi có những “con chim” (là lời Giáo hội, là lương tâm) cảnh báo, chúng ta lại khó chịu và gạt đi.

Chúa Giêsu vẫn kiên trì gọi chúng ta. Ngài gọi chúng ta quay về từ những cánh đồng hoang của tội lỗi để đến với dòng suối Lời Chúa và lương thực Thánh Thể. Thánh Phêrô tha thiết kêu mời: “Anh em đã một thời lạc bước như những con chiên, nhưng nay đã quay về với vị Mục Tử và Đấng canh giữ linh hồn anh em.” (1 Pr 2,25).

3. Cầu nguyện cho những mục tử theo lòng Chúa mong ước

Hôm nay là ngày cầu nguyện cho ơn gọi. Giáo hội cần những mục tử biết “mang vào mình mùi chiên” như lời Đức Thánh Cha Phanxicô thường nói. Chúng ta cần những linh mục, tu sĩ không phải là những kẻ chăn thuê chỉ lo cho bản thân, nhưng là những người sẵn sàng hiến tế cuộc đời để phục vụ đoàn chiên.

Trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định: “Nếu không có mục tử, Giáo hội sẽ không thể thực hiện lệnh truyền của Chúa là loan báo Tin Mừng và cử hành các mầu nhiệm thánh.” (x.ĐTC.Gioan Phaolô II, 1992, số 1).

Chúng ta hãy cầu nguyện cho các vị mục tử hiện tại luôn kiên trung, và xin Chúa khơi dậy trong lòng các bạn trẻ khát vọng dấn thân. Đừng sợ hãi khi nghe tiếng Chúa gọi, vì đi theo Ngài là đi vào con đường của sự sống dồi dào.

Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành và là Cửa chuồng chiên, xin cho chúng con nhạy bén để nhận ra tiếng Chúa. Xin cho chúng con can đảm bước qua cánh cửa là chính Ngài để được ơn cứu độ. Và xin Chúa ban cho Giáo hội nhiều mục tử thánh thiện, những người biết yêu thương và dẫn dắt đoàn chiên bằng cả trái tim mình. Amen.

Lễ Thánh Marcô, tác giả sách Tin Mừng – Ngày 25/4

Lễ Thánh Marcô, tác giả sách Tin Mừng – Ngày 25/4

THÁNH MARCÔ – NGƯỜI CHỨNG NHÂN TRUYỀN RAO TIN MỪNG CỨU ĐỘ

“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.” (Mc 16,15).

1Pr 5,5b-14Mc 16,15-20

Lm. John Trần

Hôm nay, cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta hân hoan mừng lễ Thánh Marcô, tác giả sách Tin Mừng. Ngài không thuộc nhóm Mười Hai Tông đồ trực tiếp đi theo Chúa Giêsu trong suốt hành trình công khai, nhưng ngài lại là người môn đệ thân tín của Thánh Phêrô và là người bạn đồng hành nhiệt thành của Thánh Phaolô.

Qua cuộc đời và ngòi bút của ngài, chúng ta nhận ra một sứ điệp mạnh mẽ: Tin Mừng của Chúa Kitô cần được loan báo cho mọi loài thụ tạo bằng lòng khiêm nhường và sự can trường.

1. Sự khiêm nhường – Nền tảng của ơn gọi

Trong bài đọc I, Thánh Phêrô đã nhắn nhủ: “Anh em hãy mặc lấy đức khiêm nhường để đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.” (1Pr 5,5b). Lời nhắn nhủ này dường như đúc kết chính hành trình đức tin của Thánh Marcô. Truyền thống Giáo hội cho thấy Marcô chính là người môn đệ trẻ tuổi đã từng tháo chạy trong đêm Chúa bị bắt (Mc 14,51-52), và sau này cũng là người đã gây ra sự tranh luận giữa Phaolô và Barnaba vì sự rút lui sớm trong chuyến hành trình truyền giáo thứ nhất.

Thế nhưng, Thiên Chúa không bỏ rơi kẻ yếu đuối. Chính sự khiêm nhường nhìn nhận những vấp ngã đã giúp Marcô trỗi dậy. Ngài đã để cho mình được “nhào nặn” bởi những cột trụ của Hội Thánh. Thánh Phêrô yêu mến gọi ngài là “Marcô, con tôi” (1Pr 5,13). Sự khiêm nhường giúp Marcô không tìm vinh danh cho bản thân, nhưng dành trọn tâm huyết để ghi lại cuộc đời Chúa Giêsu – một Đấng Thiên Chúa làm người, Đấng phục vụ và hiến dâng mạng sống.

2. Sứ vụ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo

Trang Tin Mừng hôm nay ghi lại mệnh lệnh tối hậu của Chúa Phục Sinh trước khi về trời: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.” (Mc 16,15). Thánh Marcô đã thực hiện mệnh lệnh này không chỉ bằng bước chân truyền giáo đến Alexandria (Ai Cập) mà còn bằng ngòi bút sắc sảo của mình.

Sách Tin Mừng theo thánh Marcô là bản văn khắc họa một Chúa Giêsu hành động, đầy quyền năng nhưng cũng rất gần gũi. Ngài muốn chứng minh cho thế giới thấy rằng: Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa. Việc loan báo Tin Mừng không chỉ là nói về Chúa, mà là làm cho quyền năng của Ngài hiện diện trong thế giới. Như lời Chúa hứa: “Những kẻ tin sẽ nhân danh Thầy mà trừ quỷ, nói được những tiếng mới lạ, cầm được rắn trong tay, và dẫu có uống thuốc độc cũng chẳng sao.” (Mc 16,17-18). Những dấu lạ này không phải để phô trương, nhưng là bằng chứng cho thấy Thiên Chúa đang đồng hành và củng cố lời rao giảng của các môn đệ.

3. Sức mạnh từ sự đồng hành của Chúa

Thánh Marcô kết thúc sách Tin Mừng bằng một xác tín đầy an ủi: “Các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.” (Mc 16,20). Đây cũng chính là niềm hy vọng cho mỗi người chúng ta hôm nay.

Mỗi Kitô hữu đều có một “cuốn Tin Mừng” để viết bằng chính cuộc đời mình. Chúng ta được gọi để trở thành những Marcô của thời đại mới: rao giảng bằng sự phục vụ, bằng lòng thương cảm đối với những người bị gạt ra bên lề, và bằng sự kiên định trong đức tin giữa một thế giới đầy biến động. Khi chúng ta can đảm sống đạo, Chúa Phục Sinh sẽ tiếp tục thực hiện những dấu lạ của sự hòa giải, niềm vui và bình an qua chính bàn tay và trái tim của chúng ta.

Mừng lễ Thánh Marcô hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa ban cho mỗi người lòng yêu mến Lời Chúa thiết tha.

Xin cho chúng ta biết học nơi Thánh Marcô sự khiêm tốn để Chúa sử dụng cuộc đời mình như những khí cụ bình an.

 Ước gì cuộc sống của mỗi người là một bản Tin Mừng sống động, mời gọi người khác đến gặp gỡ và tin vào Đức Giêsu Kitô – Đấng là nguồn sống và là ơn cứu độ của chúng ta. Amen.

Thứ Sáu  – Tuần III  – Mùa Phục Sinh

Thứ Sáu - Tuần VII - Mùa Phục Sinh

THÁNH THỂ – NGUỒN SỐNG ĐÍCH THỰC

“Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ được sống đời đời” (Ga 6,54).

Cv 9,1-20; Ga 6,53-60

Lm. John Trần

Trong hành trình đức tin, lời mời gọi của Chúa Giêsu hôm nay vang lên như một lời hứa chắc chắn về sự sống trường cửu: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ được sống đời đời” (Ga 6,54). Đây không chỉ là một giáo huấn lý thuyết, mà là một thực tại thần linh mang lại sức sống cho mọi Kitô hữu.

Chúng ta hãy nhìn vào gương sáng của Mẹ Têrêsa Calcutta. Khi mở các chi nhánh của dòng tại những vùng đất khô cằn về đức tin hay đầy rẫy khổ đau, điều đầu tiên Mẹ xin không phải là ngân sách hay nhân lực, mà là xin cho bằng được một Linh mục để dâng Thánh lễ mỗi ngày. Mẹ xác tín rằng, nếu không được nuôi dưỡng bởi “Thịt thật là của ăn và Máu thật là của uống” (Ga 6,55), các nữ tu sẽ không bao giờ có đủ nghị lực để chạm vào những vết thương lở loét của người nghèo với tình yêu của Chúa.

Trái ngược với xác tín ấy, thế gian đôi khi vẫn vang lên những tư tưởng sai lầm như của triết gia Friedrich Nietzsche khi cho rằng Kitô giáo làm con người “vong thân”, rằng tin vào Thiên Chúa là đánh mất chính mình. Thực tế hoàn toàn ngược lại. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Bài giảng tại Quảng trường Thánh Gioan Lateran,ngày 18 tháng 6 năm 2017, đã khẳng định mạnh mẽ: “Việc tưởng nhớ Bí tích Thánh Thể mang lại cho chúng ta nhiều điều tốt lành: đó không phải là một ký ức trừu tượng, lạnh lùng và hời hợt, mà là một sự tưởng nhớ sống động an ủi chúng ta bằng tình yêu của Thiên Chúa. Một ký ức vừa là sự hồi tưởng vừa là sự noi theo. Bí tích Thánh Thể được thấm đẫm lời nói và việc làm của Chúa Giêsu, hương vị của Cuộc Khổ Nạn của Ngài, hương thơm của Thánh Linh Ngài. Khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thánh Thể, trái tim chúng ta tràn ngập sự chắc chắn về tình yêu của Chúa Giêsu”. Loại bỏ Thiên Chúa không giúp con người đứng thẳng lên, nhưng trái lại, khiến con người mất đi điểm tựa vững chắc nhất của phẩm giá mình và rơi vào bóng tối của sự tự hủy.

Trong Bài đọc I hôm nay, chúng ta thấy một cuộc biến đổi phi thường của Saolô trên đường Đama. Từ một kẻ bắt bớ, ông trở thành một tông đồ nhiệt thành sau khi gặp gỡ Đấng Phục Sinh. Sự biến đổi ấy chỉ có thể trọn vẹn khi ông được kết hợp với thân thể mầu nhiệm của Chúa. Cũng vậy, Bí tích Thánh Thể chính là cuộc gặp gỡ biến đổi chúng ta từ những người tội lỗi trở thành những chứng nhân của hy vọng.

Chúa Giêsu nói: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56). Việc kết hợp mật thiết này không giống như việc tiêu hóa thức ăn thông thường. Khi ta ăn bánh vật chất, bánh biến thành máu thịt ta; nhưng khi ta rước Thánh Thể, chúng ta được biến đổi để trở nên giống Chúa Kitô hơn. Đây là hồng ân cao quý nhất mà Thiên Chúa ban tặng để con người không còn phải đói khát tâm linh.

Chúng ta hãy tự vấn lòng mình: Mỗi khi tiến lên rước lễ, chúng ta có thực sự ý thức mình đang đón nhận chính Đấng Sáng Tạo và Đấng Cứu Độ không? Hay chúng ta đang biến việc hiệp lễ thành một thói quen vô hồn?

Nếu không có Thánh Thể, đời sống đức tin của chúng ta sẽ héo úa như cành nho lìa khỏi thân cây.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con tạ ơn Chúa đã ban chính Mình và Máu Người làm lương thực nuôi sống chúng con. Xin tha thứ cho những lần chúng con thờ ơ, bất xứng trước mầu nhiệm cực thánh này. Xin cho chúng con mỗi khi rước Chúa, được kín múc nguồn sức mạnh vô tận để yêu thương và phục vụ anh chị em mình như chính Chúa đã yêu chúng con.Amen.