Thứ Tư tuần VIII – Mùa Thường Niên

Thứ Tư – Tuần XV Mùa Thường Niên

SỐNG LÀ PHỤC VỤ THEO GƯƠNG CHÚA GIÊSU

“Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10,44)

1Pr 1,18-25, Mc 10,32 – 45

Lm. John Trần

Hành trình tiến về Giêrusalem của Thầy trò Chúa Giêsu được Tin Mừng hôm nay khắc họa bằng một bức tranh đối lập. Một bên là Chúa Giêsu, Ngài bước đi tiên phong với tâm thế hiến tế, bình tĩnh báo trước cuộc thương khó: “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án tử hình Người” (Mc 10,33). Một bên là các môn đệ, tâm trí còn bận tâm đến danh vọng trần tục, đỉnh điểm khi Giacôbê và Gioan đến xin hai chỗ tả hữu trong vinh quang, kéo theo sự tức tối, ganh tị của mười môn đệ còn lại.

Bài Tin Mừng cũng đánh động mỗi chúng ta. Nhiều khi đối diện với những đau khổ của tha nhân, hay ngay trong lòng giáo xứ, gia đình, chúng ta lại hành xử ích kỷ, chỉ nghĩ đến lợi ích và địa vị của bản thân. Thánh Phêrô trong bài đọc một đã nhắc nhở chúng ta về giá trị của ơn cứu chuộc: “Anh em đã được cứu chuộc khỏi lối sống phù phiếm… không phải bằng những thứ mau hư nát như vàng hay bạc, nhưng bằng máu thánh danh dự của Con Chiên vẹn toàn, tỳ ố là Đức Ki-tô” (1Pr 1,18-19). Lối sống tranh giành, ham hố quyền lực chính là “lối sống phù phiếm” mà máu Chúa Kitô đã đổ ra để giải thoát chúng ta.

Trước sự hám danh và chia rẽ của các môn đệ, Chúa Giêsu không loại trừ các ông. Ngài kiên nhẫn uốn nắn và đảo lộn hoàn toàn tiêu chuẩn của thế gian bằng một công thức đảo ngược: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10,44). Ngài định nghĩa lại quyền lực không phải là thống trị, mà là cúi xuống.

Chúa Giêsu không chỉ nói, Ngài đã thực hành: “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45). Sống là phục vụ. Phục vụ không điều kiện, không tìm hư danh hay trục lợi cá nhân thông qua những chạy chọt, luồn cúi trần tục.

Xin Chúa cho mỗi chúng ta biết mặc lấy tâm tình của Đức Kitô, hoán cải những ghen tị nhỏ nhen thành niềm vui dấn thân, để biến cuộc đời mình thành món quà phục vụ bình an và hy vọng cho anh chị em chung quanh. Amen.

Lễ Thánh Philipphê Nêri, Linh Mục – 26/5

Lễ Thánh Philipphê Nêri, Linh Mục – 26/5

NIỀM VUI CỦA SỰ THÁNH THIỆN

Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” (Mc 10,28)

1Pr 1,10-16; Mc 10,28-31

Lm.John Trần

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta hân hoan mừng kính Thánh Philipphê Nêri, (1515-1595),  một vị thánh nổi tiếng với nụ cười rạng rỡ, người được mệnh danh là “Tông đồ của thành Rôma” và là “Vị thánh của niềm vui”. Chiêm ngắm cuộc đời của ngài dưới ánh sáng của Lời Chúa hôm nay, chúng ta khám phá ra một chân lý tuyệt đẹp: Sự thánh thiện đích thực không bao giờ mang dáng vẻ u buồn, mà luôn tỏa sáng niềm vui và bình an của Chúa Thánh Thần.

Trong bài Tin Mừng theo thánh Máccô, chúng ta nghe thánh Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” (Mc 10,28). Đáp lại, Chúa Giêsu hứa ban một phần thưởng vĩ đại: “Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà bây giờ, ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống đời đời ở đời sau” (Mc 10,29-30).

Lời hứa này đã được ứng nghiệm một cách trọn vẹn nơi cuộc đời của Thánh Philipphê Nêri. Sinh năm 1515 tại Florence, nước Ý. Tên riêng của ngài hồi còn nhỏ là “bé Phil tốt lành.” Ngài từng được gửi đến sống với một người chú giàu có để thừa kế sản nghiệp thương gia. Thế nhưng, giữa sự xa hoa và hứa hẹn về một tương lai rực rỡ mang tính thế gian, tâm hồn người thanh niên Philipphê lại cảm thấy một tiếng gọi mãnh liệt hơn. Ngài đã quyết định từ bỏ khối tài sản khổng lồ ấy, lên đường đi Rôma với hai bàn tay trắng để dâng mình trọn vẹn cho Chúa. Ngài đã thực sự “bỏ mọi sự”. Và rồi, Thiên Chúa đã ban lại cho ngài “gấp trăm”. Tại Rôma, dù sống trong cảnh nghèo khó tột bậc, ngài lại trở thành người cha thiêng liêng của vô số linh hồn, từ những người hành khất, thanh thiếu niên lang thang, cho đến các vị giáo hoàng và hồng y. Ngài đã lập ra Tu hội Oratory, quy tụ hàng ngàn con cái thiêng liêng. Đó chẳng phải là người mẹ, người con, người anh em “gấp trăm” mà Chúa Giêsu đã hứa sao?

Chính sự từ bỏ triệt để ấy đã mở đường cho ngài đạt tới một sự thánh thiện phi thường. Trong Bài đọc 1, thánh Phêrô kêu gọi chúng ta: “Anh em hãy sống thánh thiện trong tất cả cách ăn nết ở, để trở nên giống Đấng Thánh đã kêu gọi anh em, vì có lời chép: Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh” (1 Pr 1,15-16). Thánh Philipphê Nêri đã hiểu rằng, thánh thiện không đồng nghĩa với việc mang một khuôn mặt rầu rĩ. Ngược lại, ngài dùng sự hài hước, tính vui vẻ và lòng hiền hậu để kéo các linh hồn, đặc biệt là giới trẻ, ra khỏi cạm bẫy của tội lỗi. Tình yêu của ngài dành cho Chúa lớn lao đến mức, trong một lần cầu nguyện vào Lễ Hiện Xuống năm 1544, người ta kể lại rằng ngọn lửa Chúa Thánh Thần đã giáng xuống, làm trái tim ngài phình to ra đến gãy cả hai xương sườn để lấy chỗ cho một tình yêu quá đỗi dạt dào.

Thế giới hôm nay đang thiếu vắng niềm vui đích thực. Chúng ta có nhiều phương tiện giải trí, nhưng tâm hồn lại thường xuyên rơi vào lo âu, trống rỗng và sầu muộn. Sứ điệp của Thánh Philipphê Nêri nhắc nhở chúng ta rằng, chỉ khi để Thiên Chúa ngự trị, trái tim ta mới thực sự bình an. Trong Thông điệp nhân kỷ niệm 500 năm ngày sinh Thánh Philipphê Nêri, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắn nhủ: “Sứ vụ của ngài là một bài ca ngợi niềm vui và tình yêu… Con đường hiện sinh của ngài được ghi dấu sâu sắc bởi mối quan hệ với Chúa Giêsu Kitô và bởi sự tận tâm hướng dẫn các linh hồn được giao phó cho sự chăm sóc tinh thần của ngài đến với Chúa. Khi sắp qua đời, ngài khuyên rằng: “Ai muốn gì khác ngoài Chúa Kitô, thì không biết mình muốn gì; ai xin gì khác ngoài Chúa Kitô, thì không biết mình đang xin gì”…Tình phụ tử thiêng liêng của ngài tỏa sáng trong toàn bộ công việc, được đặc trưng bởi lòng tin tưởng vào con người, bởi sự khinh miệt những màu sắc tối tăm và ảm đạm, bởi tinh thần hân hoan và niềm vui, bởi niềm tin rằng ân sủng không chế ngự bản chất mà chữa lành, củng cố và hoàn thiện nó” (Đức Thánh Cha Phanxicô, 2015).

Hôm nay, Chúa cũng đang mời gọi mỗi người chúng ta bước đi trên con đường thánh thiện ấy. Hãy mang niềm vui của Tin Mừng vào gia đình, vào môi trường làm việc và vào giáo xứ của chúng ta. Đừng sợ hãi khi phải “từ bỏ” những thói hư tật xấu, sự ích kỷ hay sự dính bén vật chất. Vì như Thánh Philipphê Nêri đã trải nghiệm, những gì Thiên Chúa ban lại luôn vượt quá sự mong đợi của chúng ta.

Xin Thánh Philipphê Nêri cầu bầu cho mỗi người chúng ta, để xin Chúa Thánh Thần mở rộng trái tim ta, lấp đầy bằng ngọn lửa tình yêu của Ngài, để chúng ta luôn sống hân hoan, hy vọng và trở thành những chứng nhân sống động cho niềm vui Phục Sinh của Chúa Kitô. Amen.


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  • Đức Thánh Cha Phanxicô. (2015, ngày 26 tháng 5). Message of His Holiness Pope Francis for the 500th Anniversary of the Birth of Saint Philip Neri. Vatican.va. Truy xuất từ:  https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/pont-messages/2015/documents/papa-francesco_20150526_messaggio-v-centenario-san-filippo-neri.html
  • Lm. Giuse Đinh Tất Quý, website Tổng Giáo phận Sài Gòn. Ngày 26-05: Thánh Philipphê Nêri, linh mục. TGPSaigon.net. Truy xuất từ: https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-26-05-thanh-philipphe-nerilinh-muc-46307

Lễ Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Hội Thánh

Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Hội Thánh

LỜI XIN VÂNG CỦA TRÁI TIM TINH TUYỀN

Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, thường xuyên cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu” (Cv 1,14).

St 3,9-15.20; (Cv 1,12-14); Ga 19,25-34

Lm.John Trần

Vào ngày thứ Hai ngay sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, toàn thể Giáo Hội hân hoan cử hành lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh. Ngày lễ này là một lời nhắc nhở sâu sắc mang lại cho chúng ta một niềm bình an vô bờ: Giáo Hội không bao giờ là một đứa trẻ mồ côi. Mầu nhiệm Giáo Hội được cưu mang, sinh ra và lớn lên luôn luôn có bóng dáng của một Người Mẹ, Đức Maria.

Trở về với Bài đọc 1 trích sách Sáng Thế, chúng ta nghe lại bi kịch đầu tiên của nhân loại. Bà Evà, người được gọi là “mẹ của chúng sinh” (St 3,20), đã vì bất tuân mà mang đến cái chết và sự chia cắt. Nhưng ngay trong khoảnh khắc tăm tối nhất ấy, Thiên Chúa không bỏ rơi con người. Người hứa ban một Evà Mới khi dõng dạc tuyên xưng: “Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy” (St 3,15). Lời hứa ấy đã hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đức Maria. Nếu Evà cũ đóng cánh cửa sự sống bằng sự kiêu ngạo, thì Evà Mới – Đức Maria – đã mở toang cánh cửa cứu độ bằng sự khiêm nhường.

Để hiểu thấu đáo tước hiệu “Mẹ Hội Thánh”, Tin Mừng theo thánh Gioan đưa chúng ta đến Đồi Canvê. Giữa những tiếng gào thét và bạo lực của thế gian, Mẹ Maria đứng đó, thinh lặng và kiên cường vững tin. “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người…” (Ga 19,25). Lúc này, Mẹ không chỉ hiệp thông trong nỗi đau tột cùng với Con mình, mà Mẹ còn đón nhận một sứ mạng mới. Từ trên Thập giá, Chúa Giêsu trao phó Hội Thánh cho Mẹ qua hình ảnh môn đệ Gioan: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, và Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Tại khoảnh khắc ấy, từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa, “máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34) – biểu tượng của các bí tích Rửa Tội và Thánh Thể làm phát sinh sự sống của Hội Thánh. Hội Thánh được sinh ra từ Thánh Tâm bị đâm thâu của Chúa Kitô, và ngay lập tức được đặt vào vòng tay hiền mẫu của Mẹ Maria.

Thế nhưng, sứ mạng làm mẹ của Mẹ không kết thúc ở dưới chân Thập giá. Sách Công Vụ Tông Đồ cho chúng ta thấy hình ảnh một Hội Thánh sơ khai đang tĩnh lặng, chờ đợi sau khi Chúa Giêsu về trời. Giữa lúc ấy, Mẹ đã quy tụ họ lại nơi Nhà Tiệc Ly: “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, thường xuyên cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu” (Cv 1,14). Mẹ ở đó để dạy các tông đồ, những trụ cột của Hội Thánh, cách cầu nguyện, cách chờ đợi, và cách mở lòng ra đón nhận ngọn lửa Chúa Thánh Thần.

Vai trò làm Mẹ Hội Thánh của Đức Maria vẫn tiếp diễn không ngừng trong suốt dòng lịch sử nhân loại. Khi Hội Thánh gặp giông bão, Mẹ luôn can thiệp để gìn giữ đàn con. Sự bảo trợ này được thể hiện rất rõ nét qua những lần Mẹ hiện ra nâng đỡ đức tin của Dân Chúa. Trong bài Bình luận Thần học về Bí mật Fatima năm 2000, Đức Hồng y Joseph Ratzinger (sau này là Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI) đã soi sáng cách Mẹ bảo vệ Hội Thánh bằng chính Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ. Ngài giải thích rằng một trái tim “vô nhiễm” là một trái tim nhờ ân sủng mà đạt tới sự hiệp nhất nội tâm trọn vẹn để chiêm ngắm Thiên Chúa. Ngài nhấn mạnh: “Tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Đức Maria có nghĩa là đón nhận thái độ này của trái tim, làm cho tiếng xin vâng—’ý Cha thể hiện’—trở thành trung tâm chi phối toàn bộ đời sống”[*]..

Như thế, làm con của Mẹ Hội Thánh, chúng ta được mời gọi rập khuôn trái tim mình theo trái tim Mẹ. Chúng ta không thể nói yêu mến Chúa Kitô mà lại chối bỏ Hội Thánh, cũng như không thể yêu mến Hội Thánh mà lại thờ ơ với Mẹ Maria. Khi những giông bão của cuộc đời ập đến, khi sự hiệp nhất trong gia đình hay giáo xứ bị đe dọa, chúng ta hãy nhìn lên Mẹ. Hãy để Mẹ dạy chúng ta biết nói tiếng “Xin Vâng” giữa những trái ý nghịch lòng, biết thinh lặng cầu nguyện thay vì oán trách.

Niềm vui và hy vọng đích thực của Kitô giáo nằm ở chỗ chúng ta biết mình có một Người Mẹ trên trời luôn bao bọc chở che.

Nguyện xin Đức Maria, Mẹ Hội Thánh, ấp ủ mỗi người chúng ta, gia đình chúng ta trong tà áo ân sủng của Mẹ, dẫn dắt chúng ta đi qua những thăng trầm của trần thế, để trái tim chúng ta luôn tràn trề bình an và mãi mãi thuộc trọn về Chúa Kitô. Amen.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[*].Hồng y Joseph Ratzinger, (2000). The Message of Fatima (Theological Commentary). Congregation for the Doctrine of the Faith. Vatican. Truy xuất từ: https://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/rc_con_cfaith_doc_20000626_message-fatima_en.html

Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

SỐNG VỚI VỊ THIÊN CHÚA BỊ LÃNG QUÊN

“Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Cv 2,1-11; 1Cr 12,3b-7.12-13; Ga 20,19-23

Lm. John Trần

Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo hội hoàn vũ, chúng ta hân hoan hò reo mừng Đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Đây không chỉ là ngày kỷ niệm kết thúc trọn vẹn Mùa Phục Sinh kéo dài 50 ngày, mà còn là ngày khai sinh ra Hội Thánh. Chúa Thánh Thần chính là “Món Quà Vô Giá” mà Đức Kitô Phục Sinh đã ân cần trao tặng cho nhân loại. Ngài là Đấng Bảo Trợ thiêng liêng, đem đến cho con người những ân sủng cần thiết nhất, để giữa hành trình trần thế đầy giông bão, chúng ta mạnh bước theo dấu chân Chúa Giêsu tiến về quê trời mà không bao giờ cảm thấy bơ vơ hay lạc lối.

Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn trong đời sống đức tin của chúng ta: Chúa Thánh Thần thường là vị Thiên Chúa bị lãng quên.

Mỗi khi làm dấu Thánh Giá, chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thế nhưng, trong kinh nguyện và suy tư thường ngày, tâm trí chúng ta dường như chỉ hướng về Đức Chúa Cha – Đấng Tạo Thành muôn vật, và Đức Chúa Giêsu Kitô – Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Rất ít khi chúng ta nhớ đến, tâm sự hay cầu xin cùng Đức Chúa Thánh Thần. Phải chăng vì Ngài quá âm thầm? Phải chăng vì Ngài hoạt động nhẹ nhàng như làn gió, sâu thẳm như hơi thở, nên chúng ta dễ dàng vô tình bỏ quên sự hiện diện sống động của Ngài?

Trang Tin Mừng theo thánh Gioan hôm nay nhắc nhớ chúng ta rằng, Chúa Thánh Thần không phải là một nhân vật xa lạ đến vào phút chót. Ngay từ buổi chiều ngày Phục Sinh, khi hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu đã cho các ông xem tay và cạnh sườn, rồi Người thổi hơi vào các ông và phán: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Như vậy, ơn Thánh Thần đã được ban xuống ngay từ giây phút Chúa sống lại. Nhưng phải đợi đến 50 ngày sau, trong Lễ Ngũ Tuần, sức mạnh của Thánh Thần mới thực sự tỏ hiện cách sung mãn trên các Tông đồ.

Thực ra, Chúa Thánh Thần đã luôn đồng hành trong suốt dòng lịch sử cứu độ, từ lúc khởi nguyên cho đến tận cùng thời gian. Ba Ngôi luôn đồng hành cùng nhau: Chúa Cha tạo dựng, Chúa Con cứu chuộc và Chúa Thánh Thần thánh hóa. Xuyên suốt Kinh Thánh, Ngài hiện diện qua nhiều danh xưng trân quý: Thần Khí, Thần Chân Lý, Đấng An Ủi, Đấng Bảo Trợ; và được biểu đạt qua những dấu chỉ hùng vĩ như Dầu, Nước, Lửa và Gió.

Ngay từ thủa tạo thiên lập địa, khi trái đất còn là một khối hỗn mang tối tăm, sách Sáng Thế đã ghi lại: “Thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1,2). Và khi nặn hình con người từ bụi đất, Thiên Chúa đã “thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7). Hơi thở ban sự sống ấy chính là Chúa Thánh Thần. Bước sang thời Cựu Ước, Thánh Thần cũng không ngừng tác động qua các Ngôn sứ, Tư tế và các Vị Vua. Ngài là dầu thánh hóa, là sức mạnh xức dầu trợ lực để họ chu toàn sứ mạng dẫn dắt dân Chúa.

Kính thưa cộng đoàn, Chúa Thánh Thần là Đấng vô hình, nhưng nơi nào Ngài hiện diện, nơi đó phát sinh những phép lạ kỳ diệu của sự biến đổi. Bài đọc I trích sách Công Vụ Tông Đồ là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh ấy.

Hãy nhìn lại hình ảnh các Tông đồ trước khi nhận được ơn Chúa Thánh Thần. Các ông là ai? Đó là những con người yếu đuối, thích tranh giành quyền lực, và trên hết là những con người sợ hãi. Sự kiện Thập Giá đã đánh gục niềm tin của họ, khiến họ phải đóng kín cửa ngai ngái lo sợ sự bắt bớ của người Do Thái. Thế nhưng, khi cơn gió dũng mãnh và những lưỡi lửa Thánh Thần ngự xuống, một cuộc biến đổi tận căn đã diễn ra. Lớp vỏ bọc sợ hãi bị đập tan. Những cánh cửa đóng kín bị xô tung. Ông Phêrô – người đánh cá ít học, kẻ từng run rẩy chối Thầy ba lần trước mặt một đứa tớ gái – giờ đây lại hiên ngang đứng trước hàng ngàn người, dõng dạc rao giảng về Đức Kitô Phục Sinh. Lời giảng hùng hồn ấy, nhờ quyền năng Thánh Thần, đã đánh động trái tim của ba ngàn người xin chịu phép Rửa ngay trong ngày hôm đó.

Hơn thế nữa, Chúa Thánh Thần còn mang lại phép lạ của sự hiệp nhất. Nếu như thủa xưa, tại tháp Babel, vì sự kiêu ngạo muốn bằng Thiên Chúa mà con người bị phân tán, bất đồng ngôn ngữ, chẳng ai hiểu ai, dẫn đến chia rẽ và hận thù; thì nay, trong ngày Lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần đã quy tụ tất cả. Các Tông đồ nói những ngôn ngữ khác nhau, nhưng mọi người từ mọi quốc gia đều nghe và thấu hiểu. Ở đâu có Thần Khí, ở đó không còn sự lầm lạc hay thù ghét. Thánh Thần tạo nên sự hiệp nhất tuyệt vời trong cộng đoàn, làm bừng lên niềm vui và sự bình an đích thực.

Thánh Phaolô trong Bài đọc II đã đúc kết chân lý này một cách sắc bén: “Chẳng ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí”. Chúa Thánh Thần chính là Thần Chân Lý, Đấng duy nhất có thể mở mắt đức tin, soi sáng lý trí và dẫn dắt chúng ta tiến tới “sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13).

Nhắc lại những kỳ công vĩ đại của Chúa Thánh Thần, Giáo hội tha thiết mời gọi mỗi người chúng ta hãy nhìn lại đời sống thiêng liêng của chính mình. Từ ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta. Ngài ngự trị trong tâm hồn ta. Cơ thể chúng ta được thánh hiến để trở thành Đền thờ của Ngôi Ba Thiên Chúa.

Thế nhưng, giữa nhịp sống hối hả, trước bao bộn bề lo toan của kiếp người, đã bao lần chúng ta tự khóa chặt lòng mình trong cánh cửa của sự ích kỷ, âu lo và sợ hãi? Đã bao lần chúng ta chiều theo những dục vọng thấp hèn, những thói hư tật xấu, làm hoen ố Đền thờ thiêng liêng mà Thánh Thần đang ngự trị? Đã bao lần chúng ta sống gian dối, lọc lừa theo thói thế gian, gạt bỏ sự soi sáng của Thần Chân Lý?

Trong Thánh Lễ trọng thể này, trước hết, chúng ta hãy cúi đầu xin Chúa thứ tha vì những lần lãng quên và xúc phạm đến ơn Chúa Thánh Thần. Đừng để Ngài mãi là “Vị Thiên Chúa bị lãng quên” trong cuộc đời mỗi chúng ta.

Xin cho chúng ta biết quý trọng bảy nguồn ơn thánh mà Ngài tuôn đổ. Trước mọi quyết định quan trọng, trước mọi khó khăn thử thách, xin đừng cậy dựa vào sức riêng, mà hãy biết khiêm tốn nài xin sự khôn ngoan và soi sáng của Chúa Thánh Thần. Hãy để Thần Khí xua tan bóng tối của sự sợ hãi, đốt lên ngọn lửa nhiệt thành, và thúc đẩy chúng ta mạnh dạn bước ra khỏi cánh cửa an toàn để sống chứng nhân Tin Mừng giữa thế giới hôm nay.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến. Xin thổi luồng sinh khí mới vào trái tim khô cằn của chúng con. Xin thanh tẩy, biến đổi và canh tân tâm hồn mỗi người chúng con, để chúng con luôn sống xứng đáng là con cái tự do và yêu thương của Thiên Chúa. Amen.

Thứ Bảy – Tuần VII – Mùa Phục Sinh

Thứ Bảy - Tuần VII - Mùa Phục Sinh

CHỨNG NHÂN CHO CHÚA

“Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh? Phần anh, hãy theo Thầy”

Cv 28,16-20.30-31; Ga 21,20-25

Lm. John Trần

Bài Tin Mừng hôm nay khép lại sách Phúc Âm theo thánh Gioan với một cuộc đối thoại đầy thú vị giữa Chúa Giêsu và Phêrô. Sau khi được Chúa tiên báo về cái chết tử đạo để tôn vinh Thiên Chúa, Phêrô quay lại, nhìn thấy Gioan – người môn đệ được Chúa yêu – liền chột dạ thắc mắc: “Thưa Thầy, còn anh này thì sao?”

Câu trả lời của Chúa Giêsu: “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh? Phần anh, hãy theo Thầy” chính là lời nhắc nhở sâu sắc cho mỗi người chúng ta về ơn gọi làm chứng nhân giữa lòng thế giới.

Thứ nhất, chứng nhân của tình yêu kiên trì:

Nhìn vào cuộc đời thánh Gioan, chúng ta thấy một cách thức làm chứng hoàn toàn khác biệt. Nếu các tông đồ khác làm chứng bằng việc đổ máu đào tử đạo, thì Gioan lại làm chứng bằng một cuộc đời trường thọ nhưng đầy sóng gió. Truyền thuyết kể lại, ngài từng bị bỏ vào vạc dầu sôi nhưng không chết, bị lưu đày ra đảo Patmos, và cuối cùng qua đời tại Êphêsô.

Bằng kinh nghiệm của một người từng tựa đầu vào ngực Chúa, từng đứng dưới chân thập giá, cả cuộc đời Gioan là một bài ca minh chứng cho “tình yêu Thiên Chúa”. Ngài để lại cho Giáo hội kho tàng vô giá là sách Tin Mừng, các Thư tín và sách Khải Huyền. Ngài minh chứng cho chúng ta thấy: làm chứng cho Chúa không nhất thiết phải chịu gươm đao, mà còn là kiên tâm sống trọn vẹn tình yêu, hy sinh âm thầm và truyền rao chân lý qua từng ngày sống. Giống như lời kết của Tin Mừng: “Cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra”, những phương cách làm chứng cho Chúa trong lịch sử Hội Thánh cũng vô tận và đa dạng như thế.

Thứ hai, vượt qua cạm bẫy của sự so bì:

Câu hỏi của Phêrô “Còn anh này thì sao?” phản chiếu một căn bệnh rất phổ biến trong cộng đoàn chúng ta: bệnh tò mò và so bì về phận việc của người khác. Trong gia đình, hội đoàn hay giáo xứ, chúng ta rất dễ xao nhãng bổn phận của mình vì mải mê dòm ngó người bên cạnh. Chúng ta hay phàn nàn: “Tại sao tôi phải vất vả thế này còn người kia lại thảnh thơi?”, hay “Tại sao người nọ không chịu làm việc?”.

Lời Chúa Giêsu nhắc nhở Phêrô ngày xưa cũng là mệnh lệnh cho chúng ta hôm nay: “Việc gì đến con? Phần con, hãy theo Ta”. Mỗi người có một hoàn cảnh, một khả năng và một vai trò riêng biệt trong công trình của Chúa. Việc của chúng ta không phải là tò mò hay phán xét, mà là chu toàn bổn phận của chính mình.

Ước gì mỗi chúng ta biết trân trọng sự đa dạng của ơn gọi. Người làm chứng bằng lời rao giảng, kẻ làm chứng bằng những lo toan vất vả của đời sống gia đình; người phục vụ năng nổ, kẻ đóng góp bằng lời cầu nguyện âm thầm. Xin Chúa ban ơn để chúng ta đừng bao giờ để sự so đo làm sứt mẻ tình hiệp nhất cộng đoàn, nhưng biết dồn trọn tâm trí mà nghe theo tiếng Chúa gọi: “Phần con, hãy theo Ta”. Amen.